Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

Tuồng và Chèo - Đỗ Ngọc Thạch

Thứ hai, ngày 03 tháng sáu năm 2013

Bốn truyện ngắn về Sân khấu của Đỗ Ngọc Thạch


  1. Triển lãm sắp đặt mặt nạ tuồng nhiều nhất Việt Nam


    Bốn truyện ngắn về Sân khấu của Đỗ Ngọc Thạch: 
    Tuồng và Chèo; Mẹ Đốp; Chuyện tình của Thị Mầu; Nghê Sò Ốc Hến



    1. Đỗ Ngọc Thạch. ... Tôi thì đọc truyện ngắn này của tác giả Đỗ Ngọc Thạch như mộttruyện có ảnh hưởng phong cách truyện ...
      damau.org/archives/10337 - Bộ nhớ cache
  2. MẸ ĐỐP

  3. Chi tiết Chuyên mục: Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch Lượt xem: 13 1. ... Chùm haiTruyện ngắn về Sân khấu của Đỗ Ngọc Thạch ...
    blog.tamtay.vn/entry/view/781074/Su-phu-cua-su-phu-Do-Ngoc-Thach.html - Bộ nhớ cache
    Thêm kết quả từ blog.tamtay.vn »
  4. ... cả hai chữ Ngọc Thạch! ... Chùm hai Truyện ngắn về Sân khấu của Đỗ NgọcThạch (18.04.2012 01:09) Xem chi tiết : Những bản tin khác:
    nguoibanduong.net/index.php?nv=News&at=article&sid=5863 - Bộ nhớ cache
  5. Nghêu sò ốc hến - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch | Blog ...
  6. Nghêu, Sò, Ốc, Hến là vở Tuồng Hài (còn gọi là Tuồng Đồ) thuộc vào hàng mẫu mực của nghệ thuật sân khấu Tuồng.
    blog.tamtay.vn/entry/view/714051 - Bộ nhớ cache
  7. Quanh Hồ Gươm - Truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch (27.05.2012 21:58) ... Chùm haiTruyện ngắn về Sân khấu của Đỗ Ngọc Thạch ...
    www.nguoibanduong.net/index.php?nv=News&at=article&sid=5625 - Bộ nhớ cache
  8. Nghêu, Sò, Ốc, Hến - Đỗ Ngọc Thạch - Nghêu, Sò, Ốc ...
  9. Nếu như người ta thường nói sân khấu ... Truyện ngắn này chủ yếu nói về ... Võ Quảng Bạn học lớp hai - Đỗ Ngọc Thạch ...
    4phuong.net/ebook/40168007/ngheu-so-oc-hen.html - Bộ nhớ cache

    I. TUỒNG VÀ CHÈO

    1. Tuồng và Chèo là hai loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống đậm nét bản sắc dân tộc nhất của nghệ thuật sân khấu Việt Nam. Tuồng thiên về Dương tính: thể hiện tính Bi hùng của cuộc sống là sở trường của Tuồng. Chèo thiên về Âm tính: thể hiện tính Nhân bản của cuộc sống là sở trường của Chèo. Trải qua bao cơn biến thiên, tưởng như có lúc Tuồng bị xếp vào Kho Lưu trữ của Bảo Tàng Sân khấu, chèo bị đuổi về góc chiếu nơi sân đình thôn quê!...Nhưng, những người say đắm, tâm huyết với Tuồng và Chèo không hề suy giảm, công chúng sân khấu không phải đã hoàn toàn lạnh nhạt với Tuồng và Chèo. Và, như là một tất yếu, các Nhà Hát Tuồng và Nhà Hát Chèo vẫn rực rỡ ánh đèn, dù chỉ có một vài khán giả vẫn diễn!...
    Xem chi tiết



    Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

    tuồng và chèo


     

     
         ♦ 3 bình luận ♦ 18.12.2009
    1.
    Tuồng và Chèo là hai loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống đậm nét bản sắc dân tộc nhất của nghệ thuật sân khấu Việt Nam. Tuồng thiên về Dương tính: thể hiện tính Bi hùng của cuộc sống là sở trường của Tuồng. Chèo thiên về Âm tính: thể hiện tính Nhân bản của cuộc sống là sở trường của Chèo. Trải qua bao cơn biến thiên, tưởng như có lúc Tuồng bị xếp vào Kho Lưu trữ của Bảo Tàng Sân khấu, chèo bị đuổi về góc chiếu nơi sân đình thôn quê!… Nhưng, những người say đắm, tâm huyết với Tuồng và Chèo không hề suy giảm, công chúng sân khấu không phải đã hoàn toàn lạnh nhạt với Tuồng và Chèo. Và, như là một tất yếu, các Nhà Hát Tuồng và Nhà Hát Chèo vẫn rực rỡ ánh đèn, dù chỉ có một vài khán giả vẫn diễn!…
    *
    Trần Tương là dòng dõi Võ tướng thời gươm đao, sang thời súng đạn những tưởng sẽ hết thời, nhưng có ông thầy tướng nói với cha của Trần Tương: “Thằng con trai ông có tướng cách của một Võ tướng, có thể tới chức Đại tướng quân. Thập bát ban võ nghệ gia truyền của ông  sẽ vẫn có đất dụng võ nếu như ông cho nó theo học nghề mấy ông thầy Tuồng!” Cha của Trần Tương nghe theo. Quả nhiên sau năm năm được học hành nghiêm chỉnh ở trường Nghệ thuật Sân khấu, Trần Tương trở thành một Kép Võ nổi danh, bước chân lên sân khấu là lĩnh ấn Đại tướng quân, Nam chinh Bắc phạt như gió cuốn mây bay!…
    Lệ Nương là dòng dõi Quan Đại thần thời phong kiến, sang thời đại cách mạng chuyên chính vô sản, không những sản nghiệp mất hết mà không còn tấc đất dung thân, phải sống ngụ cư phiêu bạt. Có ông thầy tướng nói với người cha của Lệ Nương: “Nhà ông đàn bà con gái nhiều, tuy sa cơ lỡ vận nhưng chưa phải đã hết đường sống vì đàn bà con gái nhà ông đều có quý cách cành vàng lá ngọc, không là Hoàng hậu, Phi tần thì cũng là Tể tướng phu nhân, Phò mã phu nhân … Vì thế, cho họ đi học lấy nghề hát chèo, tuy là “xướng ca vô loài” nhưng ăn trắng mặc trơn, lên Bà lên Mợ không mấy chốc!” Người cha của Lệ Nương nghe theo, cho năm chị em gái theo học nghề ở một gánh hát chèo của tỉnh, rồi lại lên Hà Nội học Chèo ở Trường Nghệ thuật Sân Khấu. Quả nhiên sau khi ra trường, cả năm chị em Lệ Nương đều vào vai từ Hoàng Hậu, Vương phi, xuống thấp nhất là Công chúa! Cứ mỗi khi lên sân khấu là thiên hạ tiền hô hậu ủng: “Hoàng hậu giá lâm!” hoặc “Công chúa giá lâm!”…
    2.
    Ban đầu, Trần Tương và Lệ Nương không hề quen biết nhau bởi hai người hoạt động ở hai loại hình sân khấu khác nhau, lại mắc cái bệnh là chẳng bao giờ thèm ngó ngàng đến chuyện của người khác, tức dân Tuồng chẳng thèm xem Chèo và dân Chèo cũng chẳng buồn xem Tuồng, giống như nhà văn chê nhà thơ mơ mộng hão huyền nên không thèm đọc thơ và nhà thơ thì chê nhà văn là “loài bò sát” không thèm nhìn tới!
    Ban đầu, cuộc sống tuân theo qui luật “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, tức các diễn viên trong một Đoàn, hàng ngày “ra đụng vào quệt” cho nên cuối cùng cùng “Tạo hóa” cũng sắp xếp đâu vào đó, “nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo”. Ai cũng có đôi có lứa. Chị em Lệ Nương cũng không ra ngoài quy luật đó và thường là các cặp đôi trong vai diễn trở thành cặp đôi ở đời thường.  Lệ Nương thường vào vai Thị Mầu nên làm vợ anh chàng Phan Tài thường vào vai Anh Nô!
    Bên cạnh cái quy luật “Lửa gần rơm” cũng có quy luật “Món ngon ăn mãi cũng nhàm”, thế mới là cuộc sống muôn màu muôn vẻ, đa dạng, đa thanh và đa sự! Làm vợ anh chàng Nô một thời gian, sau khi thỏa mãn nhục dục rồi, Thị Mầu (tức Lệ Nương) thấy anh chàng Nô này thật là tầm thường: vừa tầm thường về vai vế trong làng Chèo vừa tầm thường về phong độ của một nam nhi quân tử! Và thế là trong một lần vào vai Quý phi, Lệ Nương đã phải lòng bậc Quân vương hào hoa cả trên sân khấu lẫn trong cuộc đời. Và lẽ đương nhiên, Lệ Nương chỉ là vợ bé của bậc Quân vương đó ở ngoài đời, cũng như chỉ là Quý phi chứ không phải là Chính Cung Hoàng Hậu như ở trên sân khấu! Phải đợi đến một năm sau, nhờ một cuộc phế truất Hoàng hậu cũ mà Lệ Nương mới được chính thức ngồi vào vị trí “Mẫu Nghi Thiên Hạ” – Hoàng hậu! Song, cái quy luật “phế truất” đó chỉ sau nửa năm lại nhằm vào chính Lệ Nương!
    Chán ngán cảnh ngộ “Phường Chèo” bi thảm, Lệ Nương liền nảy ra ý định chuyển qua Tuồng để “đổi gió” và khi được chiêm ngưỡng vẻ oai phong lẫm liệt của Trần Tương, Lệ Nương đã bị chinh phục hoàn toàn!…Ấy là khi Lệ Nương xem trích đoạn Tuồng Lã Bố hý Điêu Thuyền, Trần Tương sắm vai Lã Bố thật là không thể hay hơn! Và để quyến rũ Lã Bố một cách bất ngờ, Lệ Nương đã gặp cô Lệ Thanh, người đang giữ vai Điêu Thuyền xin được học truyền nghề. Thật may cho Lệ Nương là cô Lệ Thanh lại có họ hàng với mẹ Lệ Nương và đang là vợ chưa cưới của người sắm vai Đổng Trác, nên khi nghe Lệ Nương nói mục đích tập vai Điêu Thuyền, Lệ Thanh đã đồng ý ngay và rất nhiệt tình giúp. Lệ Nương tập vai Điêu Thuyền rất nhanh, chỉ trong một tuần đã có thể diễn xuất không khác gì Lệ Thanh!… Đúng như “mưu kế” của Lệ Nương và Lệ Thanh, vào một buổi diễn Lã Bố hý Điêu Thuyền cho khách nước ngoài xem, sắp tới giờ thì Lệ Thanh đột ngột đau bụng, cô diễn viên dự bị bố trí sẵn cũng đi đâu mất! Thế là Lệ Thanh đã giới thiệu Lệ Nương thay mình. Và kết quả vượt xa mong muốn của Lệ Nương: Lã Bố (tức Trần Tương) đã bị Điêu Thuyền (tức Lệ Nương) quyến rũ tuyệt đối! Đúng là “Anh hùng không qua khỏi ải Mỹ nhân”!…
    Khi có người hỏi, “Tại sao trước đây Điêu Thuyền (Lệ Thanh) đầu mày cuối mắt tình tứ với Tướng quân, sao Tướng quân không hề động lòng, cứ đứng sau lưng Đổng Trác như khúc gỗ vậy?”, thì Trần Tương nói: “Lúc đó Điêu Thuyền dù có là một trong Tứ đại Mỹ nhân, nghiêng nước khuynh thành thì Nàng tức Lệ Thanh, đã là phu nhân của Phan Hổ (tức Đổng Trác). Mà Phan Hổ là Sư phụ nghề Tuồng của Trần Tương này, còn Đổng Trác là Nghĩa phụ của Lã Bố, về tình nghĩa riêng tư cũng như việc chung trên sân khấu, tôi đều không thể phản lại Sư phụ Phan Hổ cũng như Nghĩa phụ Đổng Trác, không thể cùng một lúc mang hai tội tày đình là bất nghĩa và bất hiếu!” Lại hỏi: “Nhưng kịch bản đã nói rõ, Điêu Thuyền đã quyến rũ Lã Bố khiến cho Lã Bố vì muốn có Điêu Thuyền mà giết Đổng Trác đó sao?” Trần Tương lại nói: “Mưu kế của Quan Tư đồ Vương Doãn quả thật là hiểm độc! Điêu Thuyền đã nhất quyết bắt hồn Lã Bố thì Lã Bố sao mà thoát, đúng là Anh hùng khó qua Ải Mỹ nhân! Cho nên, để hoàn thành vai diễn, tôi phải áp dụng “phương pháp gián cách” của nhà đạo diễn Bertolt Brecht, tức là không “nhập vai”, thì mới qua được mặc cảm tội lỗi!”. Lại hỏi nữa: “Vậy thì khi gặp Điêu Thuyền là Lệ Nương chứ không phải là Lệ Thanh, thì điều gì đã xảy ra?” “Thì như các bạn đã thấy đó! Vai diễn của Lệ Nương thật hoàn hảo đến nỗi tôi bị “Nhập vai” trăm phần trăm!” – Trần Tương nói đến đó thì làm điệu bộ không thể nói gì thêm!…
    Khi làm vợ Trần Tương rồi, Lệ Nương còn được giao vào vai Thị Hến trong vở Tuồng đồ Nghêu, Sò, Ốc, Hếnvà Lệ Nương đã hoàn thành vai diễn thật xuất sắc. Sự xuất sắc của Lệ Nương trong vai Thị Hến đã khiến cho cả vai Quan Huyện và vai Thầy Đề đều  say đắm ngả nghiêng. Tình tứ lả lơi trên sân khấu chỉ là “giả” cho nên cả vai Quan Huyện và vai Thầy Đề đều muốn kéo ra ngoài đời tình tứ lả lơi cho thỏa lòng khao khát! Ai ngờ cuộc “tranh ăn” trên sân khấu giữa Quan Huyện và Thầy Đề chỉ là “giả” thì ra ngoài đời lại là thật, đến nỗi suýt xảy ra án mạng! Vì thế, Lệ Nương không được giữ vai Thị Hến nữa. Chuyển Lệ Nương qua một số vai khác như Đào Tam Xuân hoặc Hồ Nguyệt Cô (toàn những vai lớn) thì Lệ Nương làm không được vì thực ra Lệ Nương chỉ có khả năng hát Chèo chứ không hợp với kiểu hát Tuồng – hát như hét, phải tổn hao rất nhiều công lực!…Từ đó, Lệ Nương muốn quay trở về Đoàn Chèo làm Hoàng hậu hay Quý phi còn thích hơn, sang trọng và nhàn hạ hơn nhiều! Song, phải chờ đến khi Trần Tương lên chức Trưởng Đoàn thì mới có thể “nói chuyện tay đôi” với Trưởng Đoàn Chèo để gửi vợ trở lại Đoàn Chèo!
    3.
    Trong nghệ thuật sân khấu, các buổi biểu diễn của diễn viên không phải giống nhau trăm phần trăm mà có sự xê xích, trồi sụt đáng kể, tùy thuộc vào tình trạng tâm sinh lý của diễn viên. Từ khi Lệ Nương trở lại với Đoàn Chèo thì buổi biểu diễn nào của Đoàn Chèo cũng có “Tướng quân” Trần Tương và vài bộ tướng của Trần Tương tới xem. Cũng như vậy, buổi biểu diễn nào của Đoàn Tuồng cũng có “Hoàng Hậu” Lệ Nương và vài Phi Tần, Cung Nữ đi xem. Tức có thể nói, việc Trần Tương và Lệ Nương trở thành vợ chồng đã giúp cho hai loại hình sân khấu Tuồng và Chèo gần gũi nhau hơn và học hỏi lẫn nhau được rất nhiều điều! Tuy nhiên, cũng đã xảy ra những “sự cố” ngoài ý muốn!…
    Trong nghệ thuật biểu diễn của Tuồng, các hành động của nhân vật thường được dùng thủ pháp Ước lệ, Cách điệu để thể hiện. Chẳng hạn như cưỡi ngựa thì chỉ là cầm một cái que có những núm tua rua, dơ cao, chạy tới chạy lui; hoặc muốn thể hiện yêu, ghét thì chủ yếu qua ngữ điệu, ngữ khí của lời nói, lời ca… Nói chung là không làm giống như thật ở ngoài đời! Vì thế, các nhân vật có diễn những vai yêu đương thắm thiết, mây mưa ân ái cuồng si thì về thân thể mà nói, vẫn còn “trong sạch” như chưa hề có chuyện gì xảy ra! Do đó, dù Trần Tương có gặp gỡ, đắm say bao nhiêu mỹ nhân trên sân khấu thì thực ra vẫn chưa chạm vào một chút gọi là cái tà áo phất phơ của họ! Do đó, Trần Tương “có điều kiện” để chung thủy với vợ, tức Lệ Nương! Nhưng ngược lại, tuy là Chèo không phải là phải giống trăm phần trăm y như thật cuộc đời, nhưng hành động của nhân vật Chèo cũng rất gần với hiện thực cuộc đời!… Lệ Nương thường vào vai các Hoàng Hậu hoặc các Phi, Tần, mà các loại vai này thường là luôn xoắn suýt, tay ấp vai kề với các vai nam (toàn bậc quân vương hoặc quan tướng) cho nên mỗi khi đi xem Vợ (tức Lệ Nương) biểu diễn về Trần Tương thường không kìm nổi sự ghen tuông: đụng chạm hoài thì cũng như “nước chảy đá mòn” chứ không thể nói là không ăn nhằm gì! …
    Một lần, Lệ Nương sắm vai Thái Hậu Dương Vân Nga, không hiểu sao hôm ấy tâm trạng lại rất hưng phấn khiến cho người sắm vai Tướng quân Lê Hoàn ngất ngây, đi quá cả giới hạn sân khấu, cứ như là có thể đến “đỉnh điểm khoái lạc” ngay trên sân khấu! Ngồi dưới hàng ghế khán giả đầu tiên, Trần Tương không kìm nén được cơn ghen tuông bộc phát, đã nhảy vọt lên sân khấu như thể muốn lấy đầu Lê Hoàn! Tưởng chừng vở diễn sẽ bị “phá vỡ”, song có hai cái may đã hóa giải tình huống thậm khẩn cấp đó: Hôm đó, Trần Tương còn mặc y phục vai diễn Tướng quân, do vừa hết vai thì phóng ngay tới Đoàn Chèo xem vợ diễn, chưa kịp tẩy trang, thay đồ nên khi Trần Tương vừa vọt lên sân khấu thì hai người sắm vai vệ binh của Lê Hoàn không ngờ lại phản ứng rất linh hoạt: đồng thanh hô to “Phó tướng làm phản” và cùng “xuất chưởng” đánh gục Trần Tương ngay từ chiêu đầu tiên! Sau đó vở diễn lại tiếp tục như đã chuẩn bị từ trước!
    Lại có một lần khác, sự can thiệp của Trần Tương không những không ngăn được “cơn sóng tình” của người đang diễn cặp đôi với Lệ Nương mà còn tạo cơ hội cho y thực hiện được niềm khao khát chiếm hữu người đẹp! Đó là lần một Đoàn Chèo của tỉnh nọ, muốn dựng vở Lưu Bình, Dương Lễ nhưng trong Đoàn không chọn được người vào vai Nàng Châu Long ưng ý, bèn mời Lệ Nương tới vào vai Nàng Châu Long với giá thù lao rất cao. Tất nhiên Lệ Nương không từ chối. Và thật đương nhiên, người sắm vai Lưu Bình đã mê đắm Lệ Nương ngay từ giây phút đầu tiên, hay còn gọi là đã bị “Tiếng sét Ái tình” đánh trúng tim! Vì thế, đoạn Nàng Châu Long một thân một mình nuôi Lưu Bình dùi mài kinh sử đã đi quá lố so với kịch bản: Lưu Bình cứ nhất quyết đòi “động phòng” rồi mới chịu lên Kinh ứng thí! Lệ Nương vào vai Nàng Châu Long lúc đó lúng túng không biết xử lý ra sao, trong khi người sắm vai Lưu Bình cứ cò kéo đòi “động phòng”! Khán giả đã xao động, Trần Tương thấy vậy định vọt lên sân khấu “lấy đầu” Lưu Bình như lần Lê Hoàn tình tứ với Dương Vân Nga, nhưng nghĩ lại đành thôi! Đang không biết làm sao thì một chiến hữu đi cùng Trần Tương hiến kế: “Bây giờ để đệ lén lên hậu trường ngắt cầu dao điện, huynh lập tức vọt lên sân khấu cho cái thằng Lưu Bình si tình ấy một chưởng, nhưng nhớ nhẹ tay thôi đấy!” Trần Tương đồng ý ngay. Khi điện phụt tắt, tất cả tối đen. Trần Tương nhảy vọt lên sân khấu, nhưng thật không ngờ tấm phông mặt tiền sân khấu ai đã kéo ra nhanh quá, khiến Trần Tương lao vào tấm vải nhung to đùng, bị gói lại như cái kẹo! Đến lúc Trần Tương thoát ra được khỏi tấm vải nhung to đùng thì quờ quạng, mò tìm hoài mà không thấy Lệ Nương tức Nàng Châu Long đâu! Thì ra khi đèn vừa phụt tắt, người sắm vai Lưu Bình vốn rất to khỏe đã bế thốc Nàng Châu Long vào chỗ bí mật và “động phòng” mà không ai hay biết!
    4.
    Cuộc sống gia đình của hai vợ chồng Trần Tương và Lệ Nương có không ít những va chạm đầy kịch tính, không khác gì những xung đột trên sân khấu, đến mức khi cãi lộn, người ngoài nghe tưởng như hai vợ chồng đang tập vở diễn vì ngữ điệu, ngữ khí của người chồng thì là giọng điệu của Tuồng đích thực, còn lời lẽ trả đũa của người vợ thì là những làn điệu Chèo không sai! Có người còn nghĩ hay là vợ chồng đôi nghệ sĩ này đang thử nghiệm sáng tạo ra một loại hình sân khấu mới: Tuồng pha trộn với Chèo?  Nhưng, đúng như luận điểm cơ bản của lý luận sân khấu, xung đột là động lực của sự vận động phát triển, vợ chồng Trần Tương và Lệ Nương có cãi lộn thì lại càng yêu nhau mạnh mẽ hơn, và về cơ bản vẫn là gia đình hạnh phúc, khi vợ chồng bên nhau, mọi chuyện đều có thể tha thứ, bỏ qua. Sự gắn kết không thể phá vỡ giữa Trần Tương và Lệ Nương là Âm Dương hòa hợp…
    Lệ Nương đã đẻ cho Trần Tương hai đứa con, đúng “tiêu chuẩn” hai vợ chồng chỉ sinh hai con và điều hai vợ chồng đặc biệt mãn nguyện là thằng anh con trai thì giống bố Trần Tương từ đầu đến chân, còn cô em con gái thì giống mẹ Lệ Nương từ trong ra ngoài! Trần Tương đinh ninh rằng thằng con trai Trần Tướng sẽ nối nghiệp bố mà theo học lớp diễn viên Tuồng, còn Lệ Nương cũng chắc mẩm rằng cô con gái Lệ Nữ sẽ nối nghiệp mẹ mà theo học lớp diễn viên Chèo, nhưng đến ngày nhập học thì cả hai anh em đều nói: “Chúng con vào lớp Pantomin – Kịch câm!”…
    Sài Gòn, 18-11-2009
    Đỗ Ngọc Thạch

    bài đã đăng của đỗ ngọc thạch





    Xem thêm:

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013

Ký ức Làm Báo (3) - Đỗ Ngọc Thạch





Ký ức Làm Báo (3)- Đỗ Ngọc Thạch

6 truyện ngắn về Nhà Báo của Đỗ Ngọc Thạch - Trích: Ký ức Làm Báo 3

Tôi bắt đầu viết báo từ thời còn là sinh viên nhưng chỉ là nổi hứng thì viết và chỉ mới biết báo chí ở sản phẩm “giấy trắng mực đen” chứ chưa biết gì về nghề báo, tức để có tờ báo “giấy trắng mực đen” đó, người ta đã phải làm những gì, tức qui trình làm báo từ A tới Z. Từ khi về “làm việc” ở Viện Văn học, tôi đọc báo nhiều hơn và cũng tích cực viết báo hơn bởi đã có ý thức hơn về nhuận bút, một khoản thu nhập không nhỏ đối với đồng lương “khổ hạnh” của đời “ăn lương” Nhà nước, mặc dù nhuận bút cũng “mỏng manh” như tờ giấy báo mà thôi
Xem chi tiết

6 truyện ngắn về Nhà Báo - Đỗ Ngọc Thạch



  1. Chuyện một nhà báo (truyện ngắn)
    Con gái viên Đại Úy (truyện ngắn)

    Ký Ức Làm Báo - 2 (truyện ngắn)
    Ký Ức Làm Báo - 3 (truyện ngắn)
    Ký ức làm báo (truyện ngắn)


    PHONGDIEP.NET - CHUYỆN MỘT NHÀ BÁO          

    trích đăng Ký ức Làm Báo -  3:



    Ký Ức Làm Báo - 3
    Đỗ Ngọc Thạch
    1. “Dũng sĩ diệt Giám đốc”

    Bây giờ, báo chí đều được in trên giấy tốt với màu sắc rực rỡ. Nhưng mới đây thôi, khoảng hai chục năm trước, tức là vào những năm 1980, cho đến đầu những năm 1990, phần lớn báo chí còn phải in trên những tờ giấy đen thui! Phép lạ nào đã biến “Nàng lọ lem” báo chí thành Công chúa rực rỡ sắc màu? Một trong những phép lạ đó chính là chuyện báo chí tham gia việc quảng cáo đủ các loại sản phẩm cho các doanh nghiệp. Nói về chuyện quảng cáo của báo chí thì không bao giờ hết. Vì thế, ở đây tôi chỉ nói về một nhân vật nữ chuyên “chạy quảng cáo” cho các tờ báo mà tài năng của cô đã được “vinh danh” là “Dũng sĩ diệt giám đốc”.

    Xin nói ngay, “thuật ngữ” này là cách nói ăn theo cụm từ “Dũng sĩ diệt Mỹ” của cánh nhà báo dùng để chỉ những ai có tài chinh phục được các giám đốc các công ty để lấy quảng cáo về cho tờ báo của mình. Nhân tiện cũng nói sơ qua về xuất xứ và ý nghĩa của cụm từ “Dũng sĩ diệt Mỹ”.  Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ sau năm 1965, Lầu Năm Góc đổ quân ồ ạt vào miền Nam Việt Nam, khiến cho cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Lính Mỹ được huấn luyện kỹ càng, còn được gọi là “lính Vua” vì được trang bị rất đầy đủ: vũ khí tối tân, áo giáp chống đạn, thiết bị nhìn đêm, mặt nạ phòng độc. Trước khi vào trận thì có máy bay ném bom và pháo binh dọn đường, ăn uống tốt, chỗ ở tốt, giải trí có rất nhiều hình thức, lương cao… Với ý chí quyết chiến, quyết thắng, chúng ta đã phát động một cuộc thi đua diệt Mỹ trong toàn quân, toàn dân. Bất cứ ai, có tinh thần chiến đấu cao, tiêu diệt được một lính Mỹ thì được phong danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Có rất nhiều chiến sĩ của chúng ta, đã nhiều lần được phong danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Đặc biệt, có cô bé Hồ Thị Thu được phong danh hiệu này khi mới 13 tuổi.
    Khi mới 9 tuổi, cô bé Hồ Thị Thu đã là giao liên hoạt động tại Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam) chuyển tài liệu, thư từ cho cán bộ chiến sĩ trong vùng bí mật. Lúc 11 tuổi, Thu xung phong vào đội xung kích bí mật của xã hoạt động tại vùng giáp danh giữa hai huyện Điện Bàn và Duy Xuyên, vận chuyển vũ khí tham gia chống càn trên mặt trận Quảng - Đà. Năm 1967, Thu được giao nhiệm vụ canh chừng các động tĩnh của đồn bốt địch để báo cáo. Thấy lính Mỹ - Ngụy đem rất nhiều súng ra lau chùi, cô cùng 3 bạn nhỏ bí mật nhặt sỏi, cát nhét vào các nòng súng. Tối đó, bộ đội ta tập kích đồn địch, đánh giáp lá cà, không có vũ khí chống trả, địch bị ép ra mép sông, bỏ chạy tán loạn, bỏ lại những khẩu súng toác nòng dính máu. Trận đánh đó ta thắng lớn mà không bị tổn thất. Riêng Thu, được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ khi mới 13 tuổi! Sau khi được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, cô bé Hồ Thị Thu được ra miền Bắc gặp Hồ Chủ Tịch, không chỉ một lần mà tới ba lần…
    Trong số rất nhiều những người được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, có một người tên Hoàng Dũng Cảm, được nhận danh hiệu này tới sáu lần, nhưng có kết cục thật bất hạnh: trận đánh cuối cùng đã lấy của Dũng Cảm cả hai cái tay và hai cái chân!... Khi Hoàng Dũng Cảm gặp lại người vợ và đứa con gái năm tuổi, tên là Cam, cả hai mẹ con đều ngất xỉu, khi tỉnh lại thì người mẹ ngơ ngẩn như người tâm thần, còn cô con gái nhỏ thì gọi Dũng Cảm là bố Sọ Dừa và cùng với mẹ ở lại trại An dưỡng chăm sóc bố Sọ Dừa. Trại An dưỡng làm cho họ một căn nhà nhỏ ở mảnh vườn cây ăn quả của trại, sau này có nhiều gia đình thương binh nữa đến ở, khu vườn trở thành một xóm nhỏ rất vui. Hai mẹ con vừa chăm sóc người bố Sọ Dừa vừa nhận thêm việc của nhà bếp trong trại. Thời gian cứ lầm lì trôi qua, người bố Sọ Dừa của cô bé Cam không thể mọc lại tay và chân như trong truyện cổ tích, nhưng ba năm sau, người mẹ của cô bé lại đẻ thêm cho cô bé một đứa em gái, đặt tên là Chanh. Tuy nhiên, cô bé Cam vẫn nuôi hy vọng người bố Sọ Dừa của cô sẽ mọc ra đủ hai tay và hai chân như trong truyện cổ tích.

    *

    Tôi biết cái gia đình bốn người nhưng chỉ có sáu cái tay và sáu cái chân này từ hồi còn là sinh viên, được cử đến Trại An dưỡng để viết về những “Dũng sĩ diệt Mỹ” và những chiến công của họ. Lúc đó, năm 1972, cô béCam đã 9 tuổi, đã có thể làm mọi việc như người mẹ: từ việc chăm sóc người bố Sọ Dừa, chăm sóc em bé và những công việc của nhà bếp trong trại An dưỡng. Mới thoạt nhìn ai cũng có thể nghĩ cái gia đình nhỏ bé này thật khó mà tồn tại. Tuy nhiên, hai mẹ con cô bé Cam lại tỏ ra rất thản nhiên chấp nhận mọi khó khăn của cuộc sống và nếu có hai hỏi cô bé sau này sẽ làm gì để nuôi người bố tàn tật thì cô bé thản nhiên nói: “Bố cháu đã sáu lần được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ thì cháu cũng sẽ phải là “Dũng sĩ kiếm tiền”. Người ta vẫn nói “Hổ phụ sinh hổ tử” đó thôi!”. Ngay tức thời, ai nghe cũng bật cười và không thể hình dung nổi cách nói “Dũng sĩ kiếm tiền” của cô bé có nghĩa như thế nào?

    Tôi gặp lại cô bé Cam vào khoảng hơn 10 năm sau, ngay tại trước cổng của Trại An dưỡng, khi tôi đi cùng một người bạn tới trại An dưỡng thăm người nhà. Lúc này, cô bé Cam ngày xưa đã là một thiếu nữ tuổi đôi mươi cực kỳ xinh đẹp… Gặp lại tôi, cô bé rất vui và líu ríu kể rất nhiều chuyện: “Bố Sọ Dừa của em vẫn khỏe mạnh. Mẹ em thì có yếu đi nhiều nhưng không còn cái tật ngơ ngẩn như người tâm thần nữa. Bây giờ em đã có tới hai đứa em chứ không phải chỉ một như trước. Đứa chị đã hơn 10 tuổi, nó là “đôi chân của bố”. Đứa em mới bảy tuổi, nhưng nó đã là “Đôi tay của bố”. Còn em là “Dũng sĩ kiếm tiền” của bố!...”. Rồi cô gái đưa tôi về nhà: ngôi nhà đã được “gia cố” nhìn khang trang hơn xưa, người bố Sọ Dừa đang dạy học cho hai đứa con và ba đứa trẻ hàng xóm, anh ngồi trên một cái ghế dựa lớn, được “cố định” vào cái ghế bằng một cái “đai xanh”, giống như người ta ngồi trên máy bay buộc dây an toàn. Ngồi nói chuyện với người Dũng sĩ diệt Mỹ năm xưa, tôi không thấy ở anh có một biểu hiện gì là kêu khổ, ta thán về cuộc sống thiếu hẳn tay chân của mình. Dường như anh đã rất quen với cái thân hình Sọ Dừa mà cô con gái đặt cho anh (Thực ra, Sọ Dừa chỉ có cái đầu và mỗi khi di chuyển thì lăn như quả bóng. Tuy người Dũng sĩ diệt Mỹ Dũng Cảm có thêm cái thân người nhưng hai chân bị cưa tới bẹn nên không thể tự ngồi được và cũng lăn quay gần như Sọ Dừa). Tôi đang định hỏi khi cần “vận động” thì ai trợ giúp và bằng cách nào thì cô con gái tên Cam tới cởi cái “đai xanh” cho người bố Sọ Dừa và nói với tôi: “Tới giờ bố em đi tè rồi!”, và vừa nói cô bé Cam vừa bế người bố Sọ Dừa lên như bế một con gấu bông! Tôi thật sự kinh ngạc về sức khỏe cử đỉnh Hạng Võ của cô bé Cam thì đứa em mười tuổi của cô bé Cam nhìn tôi tủm tỉm cười rồi nói: “Cháu cũng bế được bố Sọ Dừa như thế!”. Đứa chị chưa dứt lời thì đứa em bảy tuổi nói: “Em cũng bế được bố Sọ Dừa!”. Nhìn hai đứa bé tuy không sinh đôi nhưng rất giống nhau, tôi thoáng nghĩ nếu còn là thời chiến thì chị em chúng nó đã thành Dũng sĩ diệt Mỹ rồi! …Cảm giác của tôi khi chia tay là nói chung, cuộc sống của cái tiểu gia đình thương binh này không đến nỗi khó khăn, thiếu thốn như người ta tưởng…

    Bẵng đi hai năm, một hôm cô gái tên Cam đến tìm tôi ở tòa soạn. Có vẻ như cô gái rất bận bịu nhiều việc, nhiều cuộc hẹn nên sau khi mời tôi chủ nhật tới đến nhà cô ở Trại An dưỡng để ăn lễ đầy năm đứa em thứ ba, cô gái đưa tôi cái “Cạc-vi-zit” để “nếu có gì thì gọi điện thoại” rồi cáo từ. Khi cô gái tên Cam đi khuất bóng, tôi mới ngó tới cái mảnh giấy nhỏ có mùi thơm đặc biệt thì giật mình khi thấy không phải là cái tên Hoàng Thị Cam như tôi nghĩ mà là “Hoàng Đại Nương”, một cái tên khét tiếng, - một “Dũng sĩ diệt giám đốc” trong làng báo ở khu vực quảng cáo, tiếp thị mà tôi mới nghe nói tới khoảng hai năm nay! Nghĩ tới người bố Sọ Dừa “Dũng sĩ diệt Mỹ” của cô gái, tôi chỉ còn biết thốt lên: Quả là Hổ phụ sinh Hổ tử!


    2. Tai biến của nghề báo

    Người ta thường nói nghề báo là “Nghề nguy hiểm”, nhà báo hay gặp “Tai nạn nghề nghiệp”. Quả là như vậy, nhưng cũng cần mở ngoặc là chỉ những nhà báo nào “dấn thân”, “nhập thế” thì mới phải hứng chịu sự nghiệt ngã của cái “quy luật muôn đời”, còn những nhà báo “chuyên môn thuần túy”, thích “ẩn dật” thì vẫn có thể bình chân như vại!

    Nói về những nhà báo “bình chân như vại” và “sống lâu lên lão làng” thì thực ra chẳng có gì để “dựng thành chuyện”. Tuy nhiên, kiểu nhà báo này lại rất quan trọng và nó tạo ra “mặt bằng” của đời sống báo chí. Có thể gọi kiểu nhà báo này là “viên chức mẫn cán” và có thể nói, về bản chất, báo chí là một loại “công cụ đặc biệt” của Nhà nước và lẽ đương nhiên nó có những qui định, qui chế rất chặt chẽ không thể vi phạm, không thể “tự do quá trớn” và “dân chủ bừa bãi”. Nếu nhà báo nào nhận thức sâu sắc được điều này thì sẽ suốt đời bình chân như vại và sống lâu lên lão làng cho đến lúc về hưu. Còn những nhà báo nông nổi và ảo tưởng với những “sứ mạng thiêng liêng” của báo chí mà thực ra chỉ do những nhà “Lãng mạn chủ nghĩa” hoặc “chủ nghĩa không tưởng” gán cho nó, không sớm thì muộn cũng dính tai họa, không nặng thì nhẹ.

    Nói về “tai biến của nghề báo” thì thật thiên hình vạn trạng và có lẽ cũng chỉ có thể nói được phần nào bằng thể loại lớn như tiểu thuyết trường thiên hoặc phim truyền hình nhiều tập. Trường hợp “tai nạn nghề nghiệp” mà tôi nói dưới đây là thích hợp với thể loại Truyện ngắn hơn cả.

    Tôi biết anh bạn Lý Trần Tiến Công trong một cuộc “Họp báo” của một doanh nghiệp lớn. Hôm đó, doanh nghiệp này kỷ niệm 10 năm thành lập và chiêu đãi cánh nhà báo “không say không về”. Lý Trần Tiến Công được bạn hữu “rút gọn” lại là A Công và vì nó gần âm với “A Còng” nên gọi là A Còng - một cái bút danh tuy không độc đáo nhưng hợp thời. A Còng kém tôi đúng một con giáp nên mới quen biết đã kết bái huynh đệ và luôn mồm gọi tôi là Đại Ca. A Còng nói lai lịch có tới ba đời làm nghề báo nhưng hoàn toàn tự thân vận động chứ không dựa dẫm vào cha và ông nội là những nhà báo quan chức khá lớn. Khi mới vào nghề, đúng như tên gọi mà người ông đặt cho, A Còng được biên chế vào tổ chuyên viết về chống tham nhũng. Nhưng chỉ sau một năm, A Còng nhận thấy người tổ trưởng của mình không những không chống được tham nhũng mà xem ra đang bị một đường dây tham nhũng lớn chi phối. Không thể đi theo tổ trưởng và cũng không nỡ tố cáo tổ trưởng (và muốn tố cáo cũng không hề dễ dàng bởi người tổ trưởng rất kín võ), A Còng xin sang một tờ báo khác, thuộc quyền quản lý của “Đàn bà” - giống như nhà thơ Nguyễn Vỹ ngày xưa đã từng “bưng thúng theo đàn bà / ra chợ bán văn ngày tháng qua”. Dù làm cho tờ báo nào thì cái tên cúng cơm của A Còng luôn quy định tinh chất công việc của A Còng: kiên quyết không ngừng thế tiến công! (Cái tên “Tiến Công” của A Còng được ông nội của A Còng lấy ra từ hai chữ cuối của câu thơ này). Có nghĩa là A Còng được giao nhiệm vụ chuyên viết về đề tài “chống mua bán dâm” trong cộng đồng dân cư! Thực ra, chuyện mua bán dâm cũng như chuyện tham nhũng, hối lộ, đã có từ “thời Napoleon cởi truồng”, và ai cũng phải thừa nhận chống cũng như không! Nhưng chuyện chống luôn nằm trong danh mục nhiệm vụ của cơ quan báo chí và không những không thể bỏ mà thi thoảng phải đem ra “hâm nóng”. Nói cách khác, nhiệm vụ của A Còng là “hâm nóng” cái đề tài muôn thuở đó khi có chỉ thị từ trên!...

    Khi A Còng gặp tôi là đã có thâm niên gần mười năm làm công việc “hâm nóng” cái đề tài “chống mua bán dâm”. Lúc chia tay, A Còng nói: “Lúc nào đại ca thấy chán đời, cần có nơi dốc bầu tâm sự, cần có một bờ vai mềm mại để tựa má kề vai thì cứ phôn cho đệ!”. Tôi ghi nhớ lời nói đó của A Còng nhưng vì bận bịu nhiều việc mà quên khuấy đi có đến gần một năm mới sực nhớ ra. Tôi liền gọi điện cho A Còng thì ở bên kia có tiếng nói của một giọng nữ, rất mềm mại và êm dịu: “Anh hỏi A Còng nhà em hả? Bị bắt hai hôm nay rồi, bị kết tội môi giới và tổ chức mua bán dâm!... Nhưng không sao đâu, chắc là họ bắt nhầm, em đang nhờ người bảo lãnh, có lẽ chỉ ngày mai là về thôi! Ngày mai anh tới nha!”. Ngày mai tôi lại có việc phải đi xa, tới tận huyện Đăc Glei, tuốt miền biên giới Việt Lào để viết về chuyên đề Nước sạch nông thôn cho Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Kon Tum, không biết bao giờ mới trở về để tới thăm A Còng? Trên đường đi Đăc Glei, trong những giấc ngủ chập chờn trên ô tô, tôi được thần linh báo mộng là A Còng sẽ chết vì nhiễm căn bệnh thế kỷ, không biết có đúng không? Khi kết thúc chuyến đi Đăc Glei, tôi có tìm đến nhà A Còng nhưng người vợ nói đã hỏa thiêu được ba ngày. Tôi hỏi lý do chết thì người vợ nói bác sĩ pháp y kết luận là đột tử do bệnh tim!


    3. Ai mới thực sự là “Nhà nghèo”?

    Người ta thường nói “Nhà văn, nhà báo, nhà giáo - nhà nghèo”. Câu nói ấy xem ra không còn mang tính phổ quát nữa mà chỉ đúng với những người ngây thơ, tức “không chịu xa rời tuổi ấu thơ”, tức lúc nào cũng là trẻ thơ! Và cái từ “Nhà nghèo” thực sự, từ ngàn xưa, là của Nhà nông, nhất là ở những nơi xa xôi, hẻo lánh mà người ta gọi là “Vùng xa, vùng sâu”. Tôi thường nghĩ, có hai nơi mà ai đã làm Nghề báo thì đều không thể không đến đó là những “Điểm Nóng” (xuất hiện theo “tính thời sự” của đời sống xã hội) và những “Vùng xa, vùng sâu”. Đến với những “điểm nóng” thì hầu như nhà báo nào cũng hăng hái, còn đến với những “vùng xa, vùng sâu” thì hầu như không mấy ai quan tâm và thường được cho là “chuyện của muôn năm cũ”, nếu có đi thì phải có một cái cớ cụ thể nào đó, chẳng hạn như đi cùng đoàn cứu trợ nhân đạo, đi thực hiện đề tài “xóa đói giảm nghèo” khi có lệnh, hoặc muốn đi tìm cái cảm giác ẩn dật nơi thâm sơn cùng cốc cùng vị “đạo sĩ” nào đó!

    Nếu muốn có danh sách Top 10 hoặc Top 100 những tỷ phú đại gia của Việt Nam và của cả thế giới thì sẽ nhanh chóng có ngay (tìm trong Google), nhưng muốn có danh sách Top 10 hoặc Top 100 những người (hoặc địa phương, ở Việt Nam thôi) nghèo nhất thì không thể có ngay! Tôi có người bạn vong niên còn hành nghề nhà báo và có quan tâm đến đề tài “Xóa đói giảm nghèo”, nhưng khi hỏi thì cũng chịu và ngậm ngùi nói: “Tôi đã tiến hành thống kê số hộ, số người thuộc diện đói nghèo cần Nhà nước cứu trợ, nhưng chỉ một tháng sau, đi kiểm tra lại để “khóa sổ” thì con số cũ đã thay đổi rất nhiều, không phải theo chiều hướng giàu có lên mà là ngược lại!”.

    Tuy nhiên, người bạn này cũng cho tôi DANH SÁCH 62 HUYỆN NGHÈO NHẤT TRÊN CẢ NƯỚC (Theo tài liệu công bố năm 2008):
    Hà Giang có 6 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Hoàng Su Phì, Xín Mần.
    Cao Bằng có 5 huyện: Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Hạ Lang.
    Lào Cai có 3 huyện: Si Ma Cai, Mường Khương, Bắc Hà.Yên Bái có 2 huyện: Mù Cang Chải, Trạm Tấu. Bắc Kạn có 2 huyện: Ba Bể, Pác Nặm. Bắc Giang có 1 huyện là Sơn Động.
    Phú Thọ có 1 huyện là Tân Sơn. Sơn La có 5 huyện: Sốp Cộp, Phù Yên, Bắc Yên, Mường La, Quỳnh Nhai. Lai Châu có 5 huyện: Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tân Yên, Than Uyên.
    Điện Biên có 4 huyện: Điện Biên Đông, Mường Nhé, Tủa Chùa, Mường Ảng.
    Thanh Hóa có 7 huyện: Lang Chánh, Thường Xuân, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Bá Thước. Nghệ An có 3 huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong.
    Quảng Bình có 1 huyện là Minh Hóa. Quảng Trị có l huyện là Đa Krông.
    Quảng Ngãi có 6 huyện: Sơn Hà, Trà Bồng, Sơn Tây, Minh Long, Tây Trà, Ba Tơ.
    Quảng Nam có 3 huyện: Nam Trà My, Tây Giang, Phước Sơn.
    Bình Định có 3 huyện: An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh. Ninh Thuận có 1 huyện là Bác Ái.
    Kon Tum có 2 huyện: Tu Mơ Rông, Kon Plông.Lâm Đồng có 1 huyện là Đam Rông.

    Thấy tôi có vẻ như còn băn khoăn điều gì, Người bạn này nói thêm: “Theo kết quả Tổng điều tra hộ nghèo, cận nghèo toàn quốc, tổng số hộ nghèo cả nước là 3.055.566 hộ, tổng số hộ cận nghèo của cả nước là 1.612.381hộ. Tại cuộc họp diễn ra ở Hà Nội hôm 30 tháng 5 năm 2011, đại diện Bộ Lao Ðộng-Thương binh và Xã Hội công bố phúc trình nói rằng tỉ lệ các gia đình nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 22% của năm 2005 xuống còn 9.45% vào cuối năm 2010 vừa qua. Cũng theo phúc trình này, số gia đình nghèo đến nay chỉ còn xấp xỉ khoảng 3 triệu, chiếm tỉ lệ 14.2%. Bộ này định nghĩa gia đình nghèo khi các thành viên trong gia đình không ai có lợi tức nhiều hơn 400,000 đồng/tháng. Phúc trình này cũng nói vùng Tây Bắc là nơi có số gia đình nghèo nhiều nhất Việt Nam: Ðiện Biên (50.01%), Lai Châu (trên 46%), Lào Cai (43%), Hà Giang (41.8%). Phúc trình của Bộ LĐ-TB & XH còn hứa hẹn rằng trong 9 năm tới, người nghèo sẽ được cải thiện điều kiện sinh sống về y tế, giáo dục, văn hóa, nhà ở… và được tiếp cận với các dịch vụ xã hội căn bản một cách thuận lợi. Trong khi đó, một số chuyên viên trong lĩnh vực này chỉ trích “chuẩn” nghèo của Bộ LĐ-TB & XH, cho rằng chuẩn này sai vì chưa được tính lại, chưa cộng thêm yếu tố trượt giá. Ông viện trưởng Viện “Những vấn đề phát triển VN” nói rằng số lượng gia đình nghèo và “cận” nghèo được nêu trên không chính xác mà chỉ mang tính ước lệ!? Thực tế thì dư luận Việt Nam không ngớt ồn ào chỉ trích những con số phúc trình sai thực tế của Bộ LĐ-TB & XH. Nhiều người cho rằng cơn bão giá dồn dập đến 3 đợt từ đầu năm đến nay đã nhấn chìm hàng triệu gia đình vào cơn khốn khó. Một chuyên viên xã hội xin được giấu tên cho biết: “Bộ LĐ-TB & XH nói chỉ có hơn 3 triệu gia đình ở Việt Nam thuộc thành phần nghèo là nói ‘phét’” !?”.

    *
    Khi còn làm cho báo Lao động & Xã hội, tôi (và một người nữa) có đến tỉnh Kon Tum để làm một số báo chuyên đề về vấn đề “Nước sạch nông thôn” do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội của tỉnh đảm nhiệm. Đích thân ông Giám đốc Sở và người Chủ nhiệm chương trình Nước sạch đã dẫn chúng tôi đi tới tận những nơi mà chương trình nước sạch đã triển khai. Không chỉ đến mấy huyện quanh thị xã Kon Tum, ông Giám đốc Sở còn dẫn chúng tôi đến cả huyện Đăc Glei là huyện xa nhất, gần đất nước Triệu Voi, có thể nghe rõ tiếng voi gầm! Phải nói rằng những người làm dự án Chương trình nước sạch nông thôn của tỉnh Kon Tum đã rất nỗ lực, không khác gì đi đánh trận thời chiến tranh. Nhưng có đến gần nửa số giếng khoan được lắp đặt rất công phu, khó nhọc đã bị hỏng hóc hoặc mạch nước không còn nữa! Ở những nơi có nước thì không khí thật vui vẻ, người dân coi những người của chương trình nước sạch như là ân nhân, thậm chí như Giang Đăc (Thần nước) và tất nhiên có mời uống rượu cần, múa Soang thâu đêm. Nhưng ở những nơi giếng khoan không có nước, bể chứa nước đã thành thùng rác thì không khí thật ảm đạm, đau buồn đến không bút nào tả xiết. “Đón” đoàn công tác nước sạch chỉ có dăm ba đứa trẻ đen nhẻm, gày ốm tong teo, ruồi bu đầy mặt không thèm đuổi!...

    Đúng vào một buổi chúng tôi buồn chán nẫu ruột như thế thì thật bất ngờ, chúng tôi gặp bố con người Dũng sĩ diệt Mỹ Hoàng Dũng Cảm và Hoàng Thị Cam. Thì ra cô con gái “Dũng sĩ diệt giám đốc” đưa ông bố Sọ Dừa đi thăm lại chiến trường xưa. Công việc đi thực địa với đoàn Nước sạch cũng đã xong, tôi chia tay Nước sạch (và hẹn gặp lại ở thị xã Kon Tum để hoàn thành bản thảo cho số báo chuyên đề) và đi cùng “đoàn Dũng sĩ” trở lại chiến trường xưa, hy vọng có rất nhiều chuyện tha hồ mà viết. Những lúc phải luồn rừng, trèo đèo lội suối, cô gái Cam “Dũng sĩ diệt giám đốc” cho người bố Sọ Dừa vào cái ba lô cóc to đùng rồi đeo trên lưng, bước đi thoăn thoắt. Còn những lúc đi trên đường quang đãng, có hai “phu kiệu” lực lưỡng khiêng như kiểu hành quân của Quang Trung Nguyễn Huệ thời xưa!

    Suốt trên những chặng đường rừng dài dằng dặc, tôi cứ muốn hỏi cô gái tên Cam về “Bí quyết diệt giám đốc” nhưng chưa tìm được “cơ hội” thì một lần ngồi nghỉ uống nước, Cam nhìn tôi cười hóm hỉnh rồi nói: “Hình như anh muốn hỏi em về “Bí quyết diệt giám đốc” phải không?”. Tôi ngạc nhiên, nói: “Làm sao mà cô biết tôi muốn nói gì?”. Cam nói ngay: “Tự nhiên là em biết thôi. Cũng như câu trả lời của em về bí quyết là: Bí quyết là không có bí quyết gì cả!”. Nhìn cái dáng vẻ hồn nhiên thơ ngây nhưng ẩn chứa một sức mạnh khác thường của cô gái, tôi lại nghĩ: đó là cái khả năng thiên phú, hay còn gọi là “siêu năng lực”!./.

    Sài Gòn, 16-6-2011
    Đỗ Ngọc Thạch
    Ngày đăng: 24.06.2011
    [ Trở lại ] [ Tiếp ]
    In tác phẩmGóp ýGửi cho bạn

    nguồn: vanchuongviet.org

    Hoa Hồng Đỏ:

Hoa hồng đỏ không chỉ mang nhiều ý nghĩa hơn so với các loại hoa hồng màu khác, mà còn là đại diện đầy tự hào cho các biểu tượng của loài nói chung. Lịch sử lâu đời của bông hồng đỏ đã tích luỹ những ý nghĩa phong phú cho loài hoa này. Hoa hồng đỏ đã hiện diện trong các tác phẩm nghệ thuật, từ vô số các bức tranh cổ điển và thơ ca nhạc hiện đại và các phương tiện truyền thông. Chúng đã xuất hiện trong suốt chiều dài lịch sử và trên nhiều nền văn hóa như là biểu tượng chính trị và tôn giáo. Sự thần bí của hoa hồng đỏ là một nguồn cảm hứng vô biên đối với nhiều người qua các thời đại. Tuy nhiên, biểu tượng cho tình yêu của hoa hồng đỏ được công nhận phổ biến nhất.Hoa hồng đỏ, như cách ngày nay chúng ta vẫn biết về loài hoa này, là biểu tượng truyền thống cho tình yêu và sự lãng mạn. Màu đỏ hiện đại quen thuộc ngày nay vốn có xuất xứ từ Trung Quốc được giới thiệu đến châu Âu vào những năm 1800. Tuy nhiên, ý nghĩa liên kết với chúng có thể từ trước đó nhiều thế kỷ, thậm chí đã xuất hiện một số trong những xã hội sơ khai.
 Bản thân loài hoa màu đỏ này vốn nguyên thuỷ theo truyền thuyết là được ra đời từ cảm xúc sâu sắc. Trong thần thoại Hy Lạp và La Mã, hoa hồng đỏ được gắn chặt với nữ thần tình yêu. Nhiều nền văn hóa cổ đại sử dụng hoa hồng đỏ để trang trí lễ kết hôn và chúng thường là một phần của trang phục cưới truyền thống. Thông qua tập tục này, bông hồng đỏ dần trở nên được biết đến như một biểu tượng cho tình yêu và lòng trung thành. Khi truyền thống trao đổi hoa hồng và các loại hoa khác làm quà tặng tình cảm trở nên phổ biến, một bông hồng đỏ tự nhiên đã trở thành bông hoa được lựa chọn để gửi thông điệp mạnh mẽ nhất của tình yêu. Đây là một truyền thống đã được gìn giữ cho đến ngày nay.
 
Hoa hồng đỏ tiếp tục là cách phổ biến nhất để nói "Anh yêu em" với một ai đó đặc biệt. Các di sản phong phú của hoa hồng đỏ đã dẫn đường cho loài hoa này tiến đến khẳng định đỉnh cao trong hình ảnh hiện đại của nó là hoa hồng của những người yêu nhau. Hoa hồng đỏ là biểu tượng xác định cho tình cảm lãng mạn, thể hiện cho tình yêu chân thật, mạnh mẽ bất chấp mọi chông gai. Hoa hồng đỏ là một món quà có ý nghĩa, hoàn hảo để thể hiện tình cảm với một người thân yêu vào ngày Valentine, ngày kỷ niệm hoặc đơn giản chỉ vì muốn gửi hoa ". Đối với các mối quan hệ vừa chớm nở, một bó hoa hồng đỏ cũng có thể báo hiệu sự khởi đầu của ý định lãng mạn về một tình yêu. Chúng có thể gửi một thông điệp đầy hứa hẹn và một lời mời ngầm bày tỏ cho tình cảm phát triển hơn. Ngay cả sự đơn giản của một đoá hồng duy nhất có thể khơi gợi một hiệu ứng mạnh mẽ. Bởi nhân đó, hoa hồng đỏ có một sức hấp dẫn khó cưỡng lại!
    Tặng Hoa Các Nhà Báo nhân ngày 21-6

chuyện người hỏng thi - đỗ ngọc thạch


Thứ Hai của bạn (3/6/2013)


Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch - Trích: Chuyện người hỏng thi

ĐỖ NGỌC THẠCH

  CHUYỆN NGƯỜI HỎNG THI


Mỗi chúng ta trong đời, hẳn đã từng ăn không biết bao nhiêu bánh ngọt ! Nhưng, có lẽ rất ít người biết được rằng trong từng cái bánh ngọt, thơm tho đó (do bỏ vào một chút tinh dầu) có mồ hôi và nước mắt của những người thợ bánh ! Tôi xin cam đoan rằng, sau khi đọc xong cái truyện ngắn này, mỗi khi ăn bánh, đằng sau cái ngọt thơm sẽ thấy rất rõ cái vị mặn nồng của mồ hôi và nước mắt những người thợ bánh ! Riêng tôi, đã bỏ ăn bánh từ dạo ấy và mỗi khi nhìn thấy ai ăn bánh là lập tức trong đầu hiện lên rõ mồn một những người thợ bánh ấy !...
…Là niềm hy vọng lớn của gia đình, của cả xóm làng thậm chí của cả huyện, nếu chưa muốn nói là của tỉnh – nên khi thi trượt đại học, tôi đã bỏ trốn biệt tích như một kẻ phạm trọng tội ! Đi đâu ? Tôi cũng không biết nữa ! Chỉ biết rằng sau gần ba ngày đêm lăn lóc trên những chuyến xe đò liên tỉnh, tôi thấy mình bị ném xuống bến xe Chợ Lớn ! Lúc đó vào khoảng 7-8 giờ tối. Lần đầu tiên đặt chân đến nơi xa lạ, lại là chốn phồn hoa đô hội, tôi đúng như người nhà quê ra tỉnh ! Đeo cái ba-lô con cóc (của anh cả tôi đã từng là lính) lép kẹp với ba bộ quần áo và trong túi không còn một xu, tôi thật chẳng khác người từ trên trời rơi xuống !
Cho đến tận bây giờ, đã đúng một giáp trôi qua, có thể tôi đã quên đi nhiều sự việc, sự kiện, nhưng tôi vẫn nhớ như in mọi hình ảnh, lời nói của nàng – người đã nói chuyện với tôi đầu tiên trong cái đêm đầu tiên lưu lạc ấy của tôi…
Từ bến xe Chợ Lớn, tôi đi lang thang dọc theo những phố phường ngập ánh sáng điện đủ màu sắc cho đến lúc đụng một cái ghế đá thì mới thấy mỏi chân và mỏi mắt – tôi ngồi xuống cái ghế đá và lập tức “cái ngủ” ập đến. Dân nhà quê chúng tôi thường sống hồn nhiên, đói ăn, khát uống và mệt nghỉ, khi “cái ngủ” ập đến là tôi lăn kềnh ra cái ghế đá và không biết giời đất là gì nữa !...
Tôi đang còn ngủ rõ ràng, vậy mà tai tôi nghe rõ mồn một những tiếng nói sau đây :
- Em xin các anh cho em đi …Em không phải là…gái…Em không thể tiếp các anh được !...
- Hì…Hì…Cho đi làm sao được ! Bất cứ cô gái nào đã gặp bọn anh đều không thể đi qua dễ dàng !...
- Nhưng em không phải là…
- Nhưng em lại là “me non” ! Thế mới đã !...
- Thôi mà ! Đằng nào thì em cũng phải biết “mùi” ! Đi với bọn anh, em sẽ được phong hoàng hậu !...
Rồi có tiếng xô đẩy, níu kéo…Rồi có tiếng cười man rợ…Rồi có tiếng kêu thất thanh tắc nghẹn…!
Tôi ngủ nhanh như thế nào thì cũng tỉnh giấc nhanh như thế. Sau giây phút định thần, tôi đã nhận ra sự việc đang xảy ra ngay trước mắt mình :
một cô gái, dáng liễu yếu đào tơ, đang bị năm thằng lưu manh côn đồ xâu xé – chẳng khác gì một con cừu non giữa bầy sói !
Đối với “dân nhà quê” chúng tôi, hàng động thường nhanh hơn ý nghĩ . Tôi chưa kịp nghĩ mình phải làm gì để cứu cô gái yếu ớt kia thì như một mũi tên, tôi đã lao vào tóm cổ từng thằng ném ra xa như ném một hòn sỏi ! Khi tôi nhìn lại cô gái thì cô đang ngồi thu mình, còn chưa hết run lên bần bật vì sợ hãi : Chiếc áo của cô đã bị bọn kia xé rách, cả quần cũng vậy !...Tôi mở ba-lô con cóc lấy một bộ quần áo đưa cho cô mặc. Cô gái mặc quần áo xong, nói :
- Rộng thùng thình !...Kỳ quá !...
- Hồi tôi còn nhỏ, tôi thường mặc quần áo của anh tôi, cũng rộng thùng thình ! Cô xắn lên !
- Nhìn anh như là Ô-ten-lô ấy?
- Đúng đấy. Bạn bè tôi gọi tôi là “Ô-ten-lô vừa đô vừa khỏe”!
- Anh cũng biết Ô-ten-lô à?
- Sao cô biết còn tôi lại không biết? Cô giống Đét-xđê-mô-na lắm!”Đet-xđê-mô-na vừa trẻ vừa xinh”!
- Đâu có ! Em làm sao đẹp được như thế! Tại sao anh lại ở đây?
- Tôi muốn hỏi cô câu ấy!
- Nhưng tại sao anh lại gọi em là “cô”? Nghe kỳ quá!
- Cô tức là cô gái. Còn trong tiểu thuyết người ta gọi là Nàng. Tôi chỉ gọi là em những ai chắc chắn ít tuổi hơn.
- Vậy thì em ít tuổi hơn anh đó. Anh kêu em là em đi!
- Thôi được, nếu cô thích, tôi gọi cô là em. Vậy em kể về em đi !
- Nhà em nghèo lắm, em phải nghỉ học để đi làm kiếm tiền đỡ cho ba má. Em làm ở một lò bánh xốp. Anh đã ăn bánh này bao giờ chưa ? Những lớp kem ngọt lịm, thơm phức nằm giữa những miếng xốp giòn…Nhưng làm ra những cái bánh đó thì vất vả, nặng nhọc lắm. Ngày nào em cũng phải làm từ năm, sáu giờ sáng cho tới chín mười giờ đêm…Em vừa làm về đi ngang qua đây thì…
- Em kể về cái lò bánh xốp đi ? Tôi chưa bao giờ được ăn bánh xốp đâu !
- Thôi, khuya rồi anh à . Ngày mai mời anh tới chỗ chúng em làm, em sẽ mời anh ăn chán thì thôi !...Giờ em phải đi về, kẻo má em mong !...
Tôi đưa em về tới nhà, trong một ngõ hẻm ngoằn ngoèo. Tới lúc em định gõ cửa gọi má, em mới chợt nói :
- Ôi, chút xíu nữa em quên mất, anh tên là gì, ở đâu ?
- Ờ nhỉ ! Tôi cũng chưa biết tên em cơ mà ? Thôi được, em nói chỗ làm của em ở đâu, sáng mai tôi sẽ tới…
Cửa nhà em mở, má em bước ra, tròn mắt nhìn hai người. Em kéo tôi vào nhà, giới thiệu với má…Tôi ngồi nói chuyện với má em cho tới gần sáng …
Thế là ngay sáng hôm sau, tôi đến làm ở lò bánh xốp với em. Lò bánh đang thiếu người nên vừa nhìn thấy tôi, ông bà chủ nhận tôi làm ngay.
Để ra sản phẩm cái bánh xốp có nhiều công đoạn và nặng nhọc nhất là đánh kem, thứ đến là đứng lò nướng bìa bánh. Một cái chậu nhựa to đùng, đổ vào nó nửa chậu đường (đã xay thành bột) và vài lít mỡ nước, rồi lấy tay ngoáy nhào liên tục cho tới khi nó phồng nở trắng ngà, khi gần đầy chậu, vẩy vào một chút tinh dầu thơm, lại ngoáy trộn đều – lúc ấy mới thành một chậu kem thơm lừng, béo ngậy ! Nhưng, cái động tác ngoáy nhào đó thật là đơn điệu và nặng nhọc không kém gì kéo gỗ ! Gần một giờ đồng hồ như thế, mồ hôi chảy ra như suối và tất nhiên, nó chảy thẳng xuống chậu kem ! Cứ mỗi ngày, tôi đánh hai hoặc ba chậu kem như thế, cường độ không thua gì tập võ ! Đầu giờ sáng và đầu giờ chiều, đánh kem xong, tôi lại lên lò nướng bìa bánh. Ở lò bánh này có bốn bộ cặp nướng bìa bánh, tức có bốn bếp lửa. Bột (thường là bột củ mì) được trộn với bột nở và nước - tất nhiên, rồi đổ vào kẹp nướng, nướng đều hai mặt cho phồng rộp lên như phồng tôm là được. Đoạn chuyển ngay tới người trét kem, trét một lớp kem giữa hai bìa bánh. Sau đó đưa vào cái khuôn gỗ, cắt thành từng miếng bánh nhỏ, đóng gói vào bịch ni-lông là thành phẩm. Tất cả các công đoạn phải làm thật nhanh, liên tục bởi cái bìa bánh nướng chín xong, để lâu ngoài không khí sẽ bị ỉu đi, mềm đi và trở nên dai như …cao su – sẽ phải bỏ, tất nhiên !
Trước khi tôi đến làm, em thường đứng lò nướng bánh . Mỗi người làm hai bếp lửa, luôn chân luôn tay, thao tác như con thoi không lúc nào ngưng. Nướng bìa bánh không nặng như đánh kem nhưng nóng như là bị nướng cùng bánh vậy ! Lửa táp vào mặt, khói bụi mù mịt như giữa sa mạc lửa ! Nhìn em đứng nướng bánh mà thương : Mặt đỏ bừng, quần áo ướt sũng mồ hôi – tất nhiên ! Sau khi nắm vững “kỹ thuật” và thao tác thành thục, tôi đứng cả bốn bếp để em khỏi vất vả cực nhọc. Nhưng lâu lâu em lại lên lò “chia lửa” với tôi ! Những lúc ấy, không hiểu sao tôi lại cứ bị đóng đinh vào cái ý nghĩ kỳ quặc : Có một cơn bão lốc bất thần ập đến cuốn cả tôi và em đi rồi thả xuống một rừng dừa xanh lộng gió !... Và thật không ngờ, cơn bão lốc ấy đã ập đến thật, nhưng không phải từ trên từng không lồng lộng mà chính từ bên trong cái lò bánh xốp này !...
Tôi làm ở lò bánh được cỡ hai tháng thì bà chủ bảo tôi đến ở nhà bà cho tiện và làm thêm nhiệm vụ “vệ sĩ” cho bà bởi ông chủ sắp đi thăm người nhà ở nước ngoài ! Khi thấy tôi ngần ngừ, bà bảo : “ Vũ à ! Tôi muốn cậu ở lại đây thực tình là muốn giúp cậu rút ra khỏi vũng lầy…”. Tôi ngạc nhiên : “Vũng lầy nào ạ ?”. Bà chủ ghé sát tai tôi nói thì thầm : “Còn vũng lầy nào nữa ! Cái con Tuyết bồ của cậu chứ còn gì nữa ! Cậu mới cặp bồ với nó mà đã ăn ở nhà nó, coi sao được ? Nếu nó khá giả, đàng hoàng thì cũng được, đằng này nhà nó như ổ chuột, một đống người đói rách. Cậu chui vào đấy chẳng phí đời trai đi sao ?”. Tôi có cảm giác như bị xúc phạm, nói liền : “Thì tôi cũng là giang hồ bụi đời có khác gì cô Tuyết. Chúng tôi cùng cảnh ngộ, dựa vào nhau mà sống là hợp lẽ lắm chứ ! Bà là giới chủ, bà làm sao mà hiểu được chúng tôi !...”. Bà chủ nh́n tôi chằm chằm, đoạn ngồi xích lại gần tôi hơn, từ tốn nói : “Cậu bình tĩnh nghe tôi nói đã… Đúng là cậu còn trẻ người non dạ, chưa hiểu thấu sự đời đã bị ái tình làm mê hoặc ! Bây giờ tôi là bà chủ, nhưng trước đây tôi cũng như cậu thôi, cũng đi làm thuê ăn công cho người ta. Chính vì thôi quý cậu và nhìn thấy quý tướng của cậu nên tôi mới có ý định giúp cậu trở thành ông chủ!...Cậu không được ngắt lời tôi !Cậu vẫn có thể giúp đỡ cô Tuyết, mà lại được nhiều hơn. Nhưng cậu không thể vội vàng gắn bó với cô ta. Cậu khác, cô Tuyết khác. Cậu có thể vươn cao, bay xa, còn cô Tuyết, tôi nói cậu đừng buồn, cái số cô ta không chui ra khỏi cái căn nhà ổ chuột ấy đâu!”. Tôi định đứng dậy, không nghe bà chủ nói nữa, nhưng bà ta kéo tôi lại gần hơn và nói như ra lệnh:”Tôi nói vậy, cậu có thể không nghe theo. Nhưng sau đó, cả cậu và cô Tuyết sẽ bị thôi việc! Cậu nên nhớ rằng kiếm được việc làm không dễ dàng đâu!...Còn nếu cậu nghe tôi, tôi sẽ tăng lương gấp đôi cho cậu, cho cả cô Tuyết nữa!...Thôi, cậu đi làm đi, sáng mai trả lời tôi cũng được!”.
Từ khi gặp Tuyết đến lúc ấy, tôi và Tuyết vẫn đối xử với nhau như bạn tốt và thú thực, tôi chưa bao giờ nghĩ đến chữ “yêu”. Không hiểu sao, sau khi nghe bà chủ nói như vậy, tôi lại muốn nói ngay với Tuyết rằng tôi yêu Tuyết, và nếu Tuyết đồng ý, tôi và Tuyết sẽ thành vợ chồng ! Đêm hôm ấy, tôi nói với Tuyết yêu cầu của bà chủ và cũng nói luôn tình cảm của tôi với Tuyết. Tuyết im lặng hồi lâu rồi bật khóc như mưa !
Tuyết nói trong nước mắt :
- Nhà em nghèo khổ quá. Em phải giúp má nuôi năm đứa em, có bao giờ đủ ăn đâu …Từ ngày ba em mất đi, em cứ nghĩ là sẽ chẳng bao giờ em lấy chồng vì nuôi được cho mấy đứa em khôn lớn là em kiệt sức rồi !...Nhưng từ khi gặp anh .
- Từ khi gặp anh thì sao ?
- Em không ngờ lại gặp anh trong cảnh ngộ như thế !...Anh là ân nhân của em !...Chính vì thế em không để cho anh khổ vì em !...
- Sao lại khổ vì em ? Chúng mình sẽ cùng đi làm nuôi các em. Rồi sau này, thế nào cũng sẽ khấm khá dần lên !...
- Không đơn giản như thế đâu anh Vũ à !...Em đi coi bói, người ta nói em khổ suốt đời !...
Tôi ôm chặt lấy Tuyết và lần đầu tiên trong đời tôi khóc…Nước mắt tôi chảy ướt đầu Tuyết, còn nước mắt Tuyết ướt sũng ngực tôi…Bỗng Tuyết đẩy tôi ra, giọng nói lạc đi :
- Đừng …anh ! Em muốn hiến dâng tất cả cho anh…nhưng đời con gái của em đã mất rồi !...
Tôi giật bắn người, kinh ngạc:
Sao? Em vừa nói gì vậy? Đứa nào đã cướp đời con gái của em? Anh sẽ đập chết nó ngay tức thì!
Không!...Không ai cướp cả…mà em tự nguyện!
Trời đất! Em tự nguyện? Gì mà lạ vậy em?
Khi ba em chết, trong nhà không còn một đồng…Em phải bán trinh để lấy tiền làm đám ma cho ba!
Tôi không thể biết được lúc đó tâm trạng của mình thế nào, chỉ như thấy bị một cú đánh trúng huyệt đạo như hồi mới học võ, tôi không gượng được và ngất xỉu!...
Vì sự sống của đàn em Tuyết mà tôi nhận lời bà chủ đến ở luôn tại lò bánh. Bà chủ sắp xếp cho tôi ở trong một cái buồng vốn là kho đồ. Lúc theo bà chủ vào nhận buồng, tôi giật mình vì không ngờ căn buồng lại được trang bị, bài trí đẹp như khách sạn bốn sao. Tôi đang ngơ ngác quan sát căn buồng thì bỗng thấy như là chìm ngập trong mùi nước hoa ngào ngạt và chưa kịp định thần thì đã thấy bà chủ ôm ghì lấy . Tôi hoảng sợ gỡ tay bà chủ ra, nhưng khi kịp nhận ra toàn thân bà chủ trắng bóc không một mảnh vải trên người thì cũng là lúc tâm trí tôi như có một màn sương mù dày đặc bao phủ, không nhân biết được gì nữa !...
Bà chủ đúng là một con quỷ cái dâm đãng và lão luyện trong chuyện tình dục. Bà ta đã lôi tôi vào cuộc tình quái quỷ một cách quyết liệt và đầy nghệ thuật khiến tôi có cảm giác như lạc sang một thế giới khác!...Tới khi tôi như là người hết cơn say rượu, tự ý thức được sự tồn tại của mình thì gặp phải sự kinh ngạc lớn gấp bội: thì ra tôi đã bị cuốn vào cái mê hồn trận này gần một tháng trời! …Khi tôi bước tới những căn buồng làm việc của lò bánh, tôi như là chết đi sống lại! Quang cảnh làm việc đông đúc, chật chội hơn, số người làm thuê tăng gấp đôi! Tiêng bà chủ nói bên tai tôi:
- Thưa ông chủ, hàng của mình dạo này bán chạy lắm !...Có lẽ phải kiếm cái nhà khác làm nhà ở, còn cái này để mở rộng cơ sở sản xuất…Tuần tới, chúng ta sẽ làm bữa tiệc ra mắt công ty trách nhiệm hữu hạn bánh ngọt Mê Ly…
Tôi quay đầu lại vì nghĩ bà chủ đang nói chuyện với ông chủ, nhưng không có ai, ngoài những người thợ bánh đang cặm cụi làm việc! “Bà ta gọi mình là ông chủ sao?” – tôi thoáng nghĩ vậy thì đã bị bà chủ kéo lên lò nướng bánh! Nhìn những lò lửa cháy phần phật, đỏ rực và thỉnh thoảng lại phả ra những đám khói cay xè, những người thợ đang luôn tay nướng bìa bánh, mồ hôi đầm đìa… trong trí óc tôi vụt lên hình ảnh của Tuyết đang đứng trước lò lửa với khuôn mặt đỏ ửng tuyệt đẹp…Tôi quay lại bà chủ, hỏi nhanh:
- A…Cô Tuyết đâu rồi? Sao không thấy cô Tuyết đâu cả?
Bà chủ vòng tay qua lườn tôi, áp sát bộ ngực đồ sộ vào người tôi, nói sát vào tai tôi:
Cô Tuyết lên xe hoa, đi lấy chồng rồi!
- Cô Tuyết đi lấy chồng? Bà nói gì vậy? – Tôi ngạc nhiên gào lên.
Bà chủ kéo tay tôi lôi một mạch về căn buồng “khách sạn 4 sao”,ấn tôi ngồi xuống cái giường nệm mút bồng bềnh rồi lấy ra mấy tấm ảnh đưa sát vào mắt tôi. Tôi bàng hoàng khi nhận ra trong ảnh là cảnh Tuyết mặc đồ cô dâu và người đàn ông mặc đồ chú rể bên cạnh là một ông già gày còm, lưng còng còng… Tiếng bà chủ thì thào bên tai tôi:”Một ông lão người Hoa đã đến xin cưới Tuyết làm vợ bé và nhận nuôi cả nhà cô ta! Ông chủ có thấy họ đẹp đôi không?Đẹp đôi quá ha!”. Nói rồi bà chủ cười rung cả bộ ngực núc ních và đột ngột cởi phăng áo ra, ghì chặt mặt tôi vao bộ ngưc đồ sộ của bà! Nhưng lần này, tôi không bị u mê, bởi hình ảnh Tuyết đứng trước lò lửa đỏ rực như đang thiêu đốt tôi, khiến tôi thấy như bỏng rát toàn thân! Tôi tóm lấy hai vai bà chủ đẩy mạnh. Ai ngờ tôi quá mạnh tay, khiến bà chủ như bị bắn mạnh vào tường và nằm bẹp gí dưới chân tường! Không kịp nhìn lại bà chủ ra sao, tôi chạy một mạch đến nhà Tuyết. Tôi đứng sững lại trước khung cảnh Tuyết đang bón từng muỗng thuốc cho má, còn má Tuyết thì như là đang mê man! Chợt thấy tôi, Tuyết lặng người nhìn tôi rồi đột ngột ngồi thụp xuống khóc hu hu !...
Thì ra bà chủ lò bánh đã bắt Tuyết phải dựng cảnh đám cưới với một ông già người Hoa và cho Tuyết nghỉ việc kèm theo một món tiền. Tuyết chưa xin được việc làm ở đâu thì má Tuyết bệnh, cô phải ở nhà chăm sóc má.
Sau khi đã khóc hết nước mắt, Tuyết nhẹ nhàng mà đầy quyết đoán :
- Em đã suy nghĩ kỹ rồi, anh Vũ ạ ! Tất cả những gì xảy ra vừa qua là tại em cả ! Bởi em không giữ được anh nên để anh lọt vào móng vuốt bà chủ…! Bây giờ em quyết giữ anh bằng được ! Thần báo mộng đã nói với em rằng nhất định anh sẽ về đây tìm em, vì thế, em đã chuẩn bị xong hết rồi !...
- Xong hết cả rồi ? Thế nghĩa là thế nào ? – Tôi tròn mắt kinh ngạc nhìn Tuyết .
Tuyết vẫn nói nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ mà tôi có cảm giác như một người mẹ đang nói với con :
- Em đã về tận quê anh, gặp ba má anh …Quê anh có nghề trồng dâu nuôi tằm từ bao đời, má anh là một trong những người giỏi nhất hiện nay. Em rất mê cái nghề này, em sẽ làm việc nuôi anh ăn học để thi lại vào đại học !...
Trời đất ơi ! Số phận tôi đã được đặt vào bàn tay thon thả của em rồi sao ? Từ bao giờ vậy ? Mãi cho đến khi tôi ngày đêm miệt mài đèn sách, còn Tuyết ngồi kéo sợi quay tơ ngoài hiên, tôi nghĩ đó là giấc mơ !...Kỳ lạ vậy đó, câu ca từ bao đời lại vận đúng vào chúng tôi, ngày nào cũng êm ái ngân lên :
Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ !...”.

TP.HCM, l989-2009
Đỗ Ngọc Thạch  

Nguồn: newvietart.com