Thứ Ba, 25 tháng 10, 2011

Về một Lối viết hiện thực huyền ảo... - Đỗ Quyên

Đỗ Quyên: Về một lối viết hiệt thực huyền ảo Việt tính...
10/25/2011 07:03 pmCông khai0 Lượt xem 0
 https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi5rHBYzdUDP7GtLlV0of12CwE1sZTVnmwoSrnncE8-77oNIL9Dd1mdX73FhBRL5HS3YgM3Y1ouc1afdaQbdpNsjTyGLNDyorGYk9fEyjksfNcimBL6EGAk5kpjZZEjLziVxfjaYHgSwmo/s320/Do+Quyen.bmp

Về một lối viết hiện thực huyền ảo Việt tính: Trường hợp Đỗ Ngọc Thạch   Đỗ Quyên
 
(Nhân đọc ba truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch)
 
Trên trang mạng phongdiep.net, nhà văn Đỗ Ngọc Thạch vừa cho xuất hiện liên tiếp một chùm ba truyện ngắn đáng bàn. Đây là chủ đích của tác giả. Tôi bỗng nhìn ra ngay sự lạ lẫm của nó mà lâu nay mình trăn trở: Đó là về một thi pháp mang tên hiện thực huyền ảo Việt tính của nghệ thuật văn xuôi vốn được cưu mang trong văn hoá, văn học dân gian và hiện đại Việt, và được hiển lộ khoảng 20 năm nay với nhiều tác giả uy tín.
 
Phải nói thật, điều khiến chúng tôi dè dặt “xướng ra” điều này là ngay cả ở một tác giả vang danh như Nguyễn Huy Thiệp – với thiển ý – đã là một vỉa lộ thiên cho thủ pháp đó nhưng đến nay chưa thấy có các nghiên cứu, phê bình tương xứng, với biểu hiện rõ nhất: Nhiều đặc sáng trong phong cách Nguyễn Huy Thiệp vẫn hay bị xem là ăn theo các tác giả nước ngoài, các phong cách thế giới, đặc biệt là ở chất hiện thực huyền ảo Việt tính.
 
Với mục đích đề xuất sơ lược vấn đề, bài điểm truyện này chưa thể đi sâu vào các nội dung học thuật và nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo nói chung trong tương quan với hiện thực huyền ảo tính Việt, cũng như vào các biểu hiện, dẫn chứng ở nhiều tác giả Việt Nam khác. Các truyện khác trong hai tập truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch và khá nhiều truyện mới của ông trên các trang mạng, trong đó có vanchuongviet.org) cũng được chưa được bàn ở đây.[i]
 
Nếu theo một quan niệm được nhiều người chấp nhận, mỗi truyện ngắn là một lát cắt, một khoảng khắc trình bày (hoặc lý giải) một nan đề trong nhân tình thế thái, thì ba truyện ngắn ở đây đều có thể coi là thành công. Chúng mang thể tài cổ điển, lối trình bày tự sự; Nhưng hiển hiện phương cách mới mà qua con dao nghệ thuật của mình nhà văn đã “mổ xã hội” một cách trung thực nhất, trong một văn cảm nhân đạo bi hài trộn lẫn.
 
Theo cách phân loại chính thống trong giới nghiên cứu văn học Việt Nam, về chủ đề nội dung, các truyện đó của Đỗ Ngọc Thạch nằm trong khuynh hướng phản-sử-thi 1975-1988. Ở giai đoạn này, so với thời kỳ sử thi, nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện của văn học Việt Nam bắt đầu có độ vênh nhất định, nên về thi pháp bắt đầu ló rạng các khuynh hướng lệch chuẩn, để rồi được định hình dần trong giai đoạn sau Đổi mới cho tới nay ở khuynh hướng Hậu hiện đại.
 
Xin được nói ngay, nhìn chung, ngòi bút Đỗ Ngọc Thạch vẻ như chưa chịu “làm văn”. Văn phong ở ông nghiêng về dẫn kể, hơi hớm ký sự. Vai trò tác giả ở đây là người-kể-chuyện-biết-tuốt, và là người kể có phần say sưa, chạy theo diễn giải, sự kiện... Ít các khoảng trống cho người đọc, cả về tâm lý lẫn ngôn ngữ. Tất cả làm nhạt đi lớp da văn học của một văn bản. Dù muốn dù không, văn chương rất cần sự nhấn nhá, dền dứ. Mà điều đó thường dễ đến được nhờ nghệ thuật tu từ và khắc họa nhân vật truyện. Tôi cho rằng, nếu như lách qua được các sở đoản đó, thì sở trường khá độc đáo – lối tự sự chân thực, rành mạch mà lại hư ảo, bất định – của Đỗ Ngọc Thạch sẽ đạt hiệu quả, góp phần đặt tên hiện thực huyền ảo Việt tính cho một thi pháp truyện ngắn Việt Nam đương đại.
*
 
1. Đọc lại chùm ba truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch
 
 
Một truyện ngắn xuất sắc. Không lạ về đề tài. Không lạ về cấu trúc. Văn phong tưởng như thường thường. Xuất sắc là ở chỗ, dùng các phương thức nghệ thuật lạ, mới để giải quyết vấn đề quen cũ, kinh điển. “Qua sông bằng đò” thuộc vào loại văn bản nhỏ gọn bao tỏa nhiều tham vọng. Và chỉ trong 1.289 từ nhưng, xét về thể loại, đây là một truyện ngắn trọn vẹn (để phân biệt với truyện cực ngắn!) .
 
Chuyện về một chuyến đò ngang cuối cùng trong ngày đang bị bóng tối và sóng gió đe dọa. Nước tràn vào con đò đầy khi ra đến lòng sông. Một chàng trai trẻ bỗng đứng lên với tư cách là “thuyền trưởng” của một con tàu nổi tiếng khiến mọi người tuân phục theo các biện pháp cứu tàu cứu người: ném tất cả đồ đạc hàng hóa đi và tát nước. Chắc sẽ không thành truyện (hoặc thành truyện khác) nếu không có chi tiết: hai bao tải gạo của hai bà buôn. Chi tiết này kéo theo một loạt động tác đầy kịch tính trong một khoảng thời gian ngắn gọn, một không gian chật hẹp: người thuyền trưởng “thật” xuất hiện và tố giác; hai bà buôn nhận dạng thuyền trưởng “giả”; người công an bắt thuyền trưởng “giả”; một cô gái xuất hiện giải cứu thuyền trưởng “giả”... Mười năm sau, người kể chuyện đã gặp lại “tất cả” các nhân vật cũ, cũng giờ đó, cũng trên bến đò đó, và tất nhiên ở một con-đò-khác. Cô gái - đã thành vợ của thuyền trưởng “giả” năm xưa mà nay là thuyền trưởng thật - hiện về qua lời kể. Còn hai bà buôn và thuyền trưởng “thật” cũ hiện về qua tiếng-vọng. Kẻ đòi hai tạ gạo xịn bị quẳng xuống dòng sông vô thủy. Người đòi danh xưng, cũng là danh dự, bị mất theo thời gian vô chung.
 
Riêng tựa đề “Qua sông bằng đò” đã là một triết lý, giải tỏa một phần nội dung tư tưởng của truyện. (Sẽ bàn tiếp dưới đây.)
 
Với những ngày tháng đầu xuân Kỷ Sửu này, vụ chìm đò 42 người chết ở Quảng Trạch, Quảng Bình sáng 30 Tết đang như là thảm họa mới nhất của ai khúc muôn thuở nhắc lại triết lý ứng xử với việc qua-sông-bằng-đò của người Việt - một vấn nạn chúng ta chắc chắn sẽ còn phải đối mặt vì sự bất toàn trong đời sống xứ sở sông nước và tính bất cần của người đời.
 
Trong danh sách tưởng tượng một tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam của mươi năm qua, cho phép tôi không bỏ qua “Qua sông bằng đò”.
 
 
Đây là một truyện ngắn khác thường, dù được viết theo lối trần thuật truyền thống. Ngoài thủ pháp hư hư thực thực chuyện lịch sử, giai thoại xen lẫn chuyện hiện tại, sự khác thường đó cũng phải đáng ghi nhận nhờ cấu trúc chặt chẽ mà đa tầng đa nghĩa, dàn bài, diễn tiến phát triển logic, hệ thống nhân vật phong phú, và quan trọng là nội dung tư tưởng nhân bản trong vẻ đẹp của sự trữ tình và bi hài. Tác giả đã bạo tay đạo diễn các sự kiện, dữ liệu rất quen thuộc trong dân gian và văn học Việt, trong đời sống và thực tế Việt Nam hiện đại để phục vụ ý đồ tư tưởng của mình. Bằng lối kể giản đơn pha tính hoạt kê, tự châm biếm, ông đã đưa các đề tài nặng ký xuống với mọi lớp độc giả, rồi bất ngờ đưa ra lời đáp đầy sự thuyết phục cho vấn đề gần gũi nhất và nan giải nhất của đời người mà khó ai qua được: Quê hương.
 
Chuyện xảy ra trong thời chiến tranh chống Mỹ. Có ba nhân vật chính và một mâu thuẫn chính. Ba nhân vật: Duy Nhất, Song Nhị và Thanh Ba. Họ ở ba vị trí của tổ chiến đấu trong một kíp trực chiến của máy radar – nơi rất cần sự hiệp đồng. Nhưng ngoài thời gian của người lính chiến, họ có thời gian cho tâm tưởng - mà cũng có thể gọi là tâm linh của một người xa nhà – khi tranh cãi ngôi thứ “địa linh nhân kiệt” giữa quê hương bản quán của ba người. Đó là mâu thuẫn chính trong toàn bộ truyện này. Tác giả tựa vào hoàn cảnh ngặt nghèo của cuộc chiến cần “đoàn kết nhất trí” cao độ để kích đẩy mâu thuẫn chính.
 
Thế kiềng ba chân được sắp đặt như sau: Duy Nhất có quê là Hà Nam xứ văn đất học; Song Nhị cùng quê với vua Lê Thái Tổ, tức là xứ võ chốn làm quan. Còn Thanh Ba? Đây là nhân vật chính, bị ẩn xuống trong phần đầu. Và quê quán của nhân vật này là bài toán của truyện ngắn. Anh không (đúng ra là chưa) là nhân vật trong các tranh luận, chỉ vì mặc cảm con dân của một làng quê có nghề ăn mày ở Thái  Bình. Đỗ Ngọc Thạch đã dám sòng phẳng với độc giả - tức với người đời – khi sử dụng ba vùng đất điển hình trong văn hóa và tiềm thức người Việt; Đặc biệt, chúng có sẵn nơi đầu lưỡi chót bút cho các cuộc tranh cãi thực hư, thật giả trong đời sống thường nhật của chúng ta, nhất với những chàng trai, cô gái xa nhà ở trường học, trên chiến trường.
 
Sau phần dàn dựng, toàn bộ phần còn lại của truyện là diễn biến đưa đến lời đáp sau đây cho bài-toán-quê-hương: làng Cái Bang cũng vẫn là một địa linh nhân kiệt! Đây không chỉ là kết quả văn học bất ngờ (trong văn chương có gì là không bất ngờ!) mà còn là ảo mộng xã hội đầy chất hiện thực, ở Việt Nam sau thời Đổi mới: Nghề nào làm ra tiền - một cách lương thiện – cũng là nghề.
 
Chiến tranh đang khốc liệt, vào dịp Tết đó, Thanh Ba được phép về nhà. Thoạt tiên, điểm về của anh là gia đình bố mẹ ở Hà Nội. Nhưng trên đường, vô tình trên chiếc xe chở hai người thương binh, ẩn ức nơi anh bộ đội trẻ đã được hồi sinh nhờ câu chuyện quê quán vốn là chuyện làm quà của những kẻ đồng hành. Cơn sốc khiến chàng trai đang muốn khám phá chân diện mục của quê cha đất tổ phải đổi hướng cho đôi chân của trí tuệ: bất ngờ về ăn Tết ở tận quê gốc Thái Bình. Sau đó là liên tiếp các bất ngờ rơi xuống từ một thế giới khác: Anh gặp được người ông nội như là đang đón chờ sẵn; Đối thoại giữa ông cháu nhà ăn mày cho thấy sự phân hóa trong quan niệm của ba thế hệ. (Người cha của Thanh Ba - thế hệ chủ nhân của thời Bao cấp - muốn bỏ làng, vứt dấu quá khứ “xấu xa”); Đoạn hội ngộ đại gia đình Cái bang trong đêm giao thừa ở nhà ông nội chính là thực tế làm thay đổi tư duy của Thanh Ba. Thân nhân của các gia đình “tay bị tay gậy” vẫn có những thành phần trí thức, văn nghệ sĩ, Việt kiều... sáng giá và ưu tú của xã hội. Rồi các cú thức tỉnh não trạng của người lính chiến xa quê hai mươi năm – đó là những ưu điểm của làng ăn mày: Không ai bị dính vào vòng lao lý; Hiện diện ở nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương, thậm chí nhiều quốc gia nhất; Không có chuyện gia đình tan vỡ, chồng vợ ly hôn. Để rồi, khi vừa trở về đơn vị, Thanh Ba nói với hai chiến hữu kiêm tranh luận hữu của mình rằng, làng của anh mới chính là địa linh nhân kiệt!
 
 
Truyện này dù được tác giả chọn làm tác phẩm yêu thích khi tự chọn, và cũng được các nhà xuất bản chọn là tên sách, trong “tam tử trình làng phongdiep.net” của Đỗ Ngọc Thạch tôi thấy nó kém cạnh hơn hai truyện trên. Ấy là ở chỗ chất hiện thực huyền ảo bị đẩy quá đà, ở phần sau của truyện.
 
Cũng như hai truyện kia, “Quà tặng tuổi hai mươi” được chia làm hai phần rõ rệt, theo kết cấu quen thuộc và cổ điển; ở phần kết, nhân vật chính (hay người kể) “tổng kết lại tình hình”, ai còn ai mất và một lối ra được đề xuất.
 
Đoạn đầu của truyện rất lãng mạn, đôi chút bi kịch, mang phong cách và chủ đề quán xuyến (motif) của Paustovski. Chất thơ ngan ngát đã tạo một khoảng không tiểu thuyết pha kịch tính lôi cuốn người đọc. Mô tả chuyện người dân tộc thiểu số được như vậy phải nói là hấp dẫn và dung dị, vừa xa vừa gần.
 
Câu chuyện kể về chuyến đi sưu tầm văn nghệ dân gian ở Plêiku của người nhạc sĩ già tên là Tô Ngọc. Ông vô tình tới dự buổi lễ tạ ơn của người Bana dành cho cô bé tròn mười tuổi H’Thùy sau năm năm liệt giường vừa mới có thể chạy nhảy đi lại. Vẻ đẹp kỳ lạ, tài nhảy múa và đoạn đời lâm nạn ly kỳ của cô bé mù khiến tâm hồn người nhạc sĩ chao động. Và ánh sáng nghệ thuật cũng soi sáng cô bé nhận ra trong đám khách có một vị khách phương xa không mời bỗng đến. Trong nỗi xúc động vô biên, Tô Ngọc bèn chơi đàn Klong Put tặng cô bé tội nghiệp và xinh đẹp một bản nhạc ứng tác thay món quà mừng. H’Thùy hiểu thấu được toàn bộ cuộc đời đã qua của mình nhờ bản nhạc. Và quan trọng hơn, qua tiếng đàn, cô bé còn hiểu biết lời hứa của nhạc sĩ: sẽ có một bản giao hưởng lớn làm quà-tặng-tuổi-hai-mươi cho cô khi mà - người nhạc sĩ trông vọng - cô bé sẽ sáng mắt trở lại.
 
Phần hai là mười năm sau đó. May rủi khôn lường. Bi kịch mẹ đẻ bi kịch con. Cuối cùng là một kết thúc có hậu.
 
Tô Ngọc tìm về nơi cũ để đưa tặng H’Thùy một bản giao hưởng đồ sộ soạn cho đàn Klong Put. Tất cả đã thay đổi, và thay đổi theo cái xấu, trừ việc H’Thùy đã là cô gái xinh đẹp ở tuổi hai mươi với ánh sáng trở về trên đôi mắt. Đoạn đời mười năm của H’Thùy xảy như theo mô hình chuyện cổ tích tân kỳ: Cô gái mười sáu tuổi đẹp như tiên giáng thế nhưng bị mù, và cha mẹ cô thách cưới mười sáu viên ngọc trai; Cô gái sáng mắt sau khi nhìn những viên ngọc trai; Cô gái bị các bà vợ của chồng đánh ghen, bị hãm hiếp, bị mù trở lại và sinh ra một quái thai; Hai mẹ con sống hoang dã như Nàng tiên mù và đứa con Sọ Dừa quái dị. Khi tận mắt gặp lại nhân vật lý tưởng của mình, và trước mối đe dọa lại sắp tới với hai mẹ con xấu số, người nghệ sĩ đa cảm đó đã dùng tiếng đàn Klong Put làm mê hoặc lòng người. Nhưng cái đích của âm nhạc là đánh thức được tiếng lòng của H’Thùy sau mười năm chờ đợi. Đoạn trước kết của truyện hoàn toàn là mang sắc màu huyền thoại Tây Nguyên: Hai hai con hổ trắng Thần núi đã tới cứu nguy trước khi bọn xấu động thủ, một con cắp H’Thùy một con cắp Tô Ngọc lao về núi.
 
2. Một số biểu hiện cho lối viết hiện thực huyền ảo Việt tính
- Vài lời về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
Theo nhiều tư liệu trên mạng Google.com, với định nghĩa của Frank Roh, thì “hiện thực huyền ảo (magical realism) có từ năm 1925 để chỉ một loạt hình nghệ thuật thể hiện những cảnh huyền ảo hoặc tưởng tượng bằng nét vẽ chính xác, rõ ràng của kỹ thuật hội họa tài liệu”. Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam (bản trên mạng) cho biết danh từ “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo được nhà văn Miguel Ángel Asturias dùng lần đầu trong lời tựa tập "Truyền thuyết Goatemala (1930)", và quan niệm căn bản của khuynh hướng này là “thực tại không chỉ bao gồm những hoạt động thực tiễn của con người tác động vào thiên nhiên, vào xã hội... mà còn bao gồm cả đời sống tâm linh, niềm tin tôn giáo, các huyền thoại và truyền thuyết.”
 
Trong lý luận văn học thế giới, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo được xem như một hình thức nghệ thuật rất độc đáo và kỳ lạ, xuất phát từ văn học Mỹ La tinh, xóa ranh giới giữa ảo và thực, giữa điều huyền hoặc tưởng tượng và sự thực thường nhật. Còn theo triến trình các phương pháp nghệ thuật, tức là về quan niệm mỹ học và thủ pháp sáng tạo, thì chủ nghĩa hiện thực huyền ảo được khai triển từ chủ nghĩa siêu thực – đó là chủ nghĩa siêu thực về cái phi lý, diễn tả tâm thức của Thế giới thứ ba đang lúc thắng thế trên trường quốc tế. Chúng ta không quên rằng chủ nghĩa siêu thực có các vị sư tổ là các nhà văn cánh tả nặng tính dân tộc chủ nghĩa ở Mỹ La tinh.
 
Năm 1967, nhà văn người Colombia là Gabriel García Marquez qua kiệt tác “Trăm năm cô đơn” đã khiến toàn thế giới văn chương phải ghi nhận chủ nghĩa hiện thực huyền ảo như một phương thức sáng tạo có tính toàn cầu. Như vậy, trên cơ sở văn hóa và tâm linh của con người, thiên nhiên và địa lý của xứ sở, trong bất cứ nền văn học của dân tộc nào cũng có tiềm ẩn chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Mỗi dân tộc có các cổ tích, huyền thoại, tông giáo riêng, có nhân sinh quan và thế giới quan riêng thì mỗi nền văn học có chủ nghĩa hiện thực huyền ảo riêng.
 
Lâu nay, văn chương hiện thực huyền ảo châu Mỹ La tinh và thế giới đã đẻ ra các hình tượng và nhân vật quen thuộc như: Một viên quan tòa ăn hối lộ bị hàn kín miệng; Một con vẹt nhái lại diễn văn của tổng thống tham những; Nhân vật quái thai mọc đuôi heo; Một cơn mưa kéo dài suốt bốn năm trời kéo theo cuộc thảm sát công nhân; Cô gái đẹp luôn cũng có bầy bướm bay theo; v.v...
 
Ở Việt Nam, hơn hai chục năm qua, biểu hiện của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo cũng đã được thấy đó đây ở sáng tác của những tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Nhật Chiêu, Đặng Thân, Hoàng Ngọc Thư, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Lê Anh Hoài, Vinh Huỳnh, Hoàng Ngọc-Tuấn, Đỗ Ngọc Thạch, v.v... Không kể ba tác giả đầu trong danh sách trên đã được các nghiên cứu, phê bình; với các tác giả sau đều chưa được quan tâm đến khía cạnh mà ở đây chúng tôi mạnh dạn đề nghị đặt tên: thi pháp hiện thực huyền ảo Việt tính.
 
Mỗi người một vẻ, nhưng nhìn chung dường như dòng văn chương siêu thực được huyền thoại hóa ở các tác giả Việt Nam nói trên không lệ thuộc vào nội dung truyền thuyết, giai thoại hay vào các nhân vật, sản phẩm truyền thuyết, giai thoại như ở các văn giới Âu - Mỹ La tinh có cùng thủ pháp. Họ chỉ làm hồi sinh thần thoại, cấu tạo hoang tưởng có tính cục bộ qua một vài yếu tố phi lý, phi thực để xây dựng tâm linh ảo và tinh thần ảo cho các nhân vật thực. Họ ham đeo đuổi các câu-hỏi-lớn về bản chất con người, mục đích cuộc đời, ý nghĩa sinh tử, v.v... mà thế giới trần tục coi là nan giải. Có lẽ vì thế, kết quả của xu hướng hiện thực huyền ảo Việt tính là chỉ gây các ám ảnh tâm lý, và chưa tạo các sang chấn nghệ thuật dữ dội và dứt khoát. Điều này cũng phù hợp với tư duy và trí tưởng tượng của người Việt vốn rất thực dụng, không có sở trường ở các lãnh vực kinh dị, huyền hoặc – nơi đòi hỏi một sự đặt cược văn chương không hề so giá!
 
- Hiện thực huyền ảo Việt tính ở chùm ba truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch
* Đề tài
 
Ngay cả không có sự hiện diện của ma quỷ, của các chế tạo hoang tưởng, phi lý trăm phần trăm, thì tính ảo cũng nằm ngay trong cái thực. Nếu cái thực bất tuân, cưỡng chống quy luật của thực tế, thì - với điểm nhìn đặc biệt - nó là ảo. Luận điểm này được Đỗ Ngọc Thạch sử dụng khi tạo ra một nền hiện thực huyền ảo ngay từ việc chọn đề tài. Đó là việc tạo ra một thế giới quan phi-khách-quan từ những vấn đề tưởng đã ổn cố ở thế giới khách quan - thế giới được đám đông dư luận quy định.
 
Chuyện sông chuyện đò vốn là đề tài kinh điển và thân thuộc trong đời sống, kinh sách, văn học Việt Nam cổ kim. Sách nhà Phật, chuyện dân gian, chuyện làng... thường có đề tài sang sông. Câu đố, ca dao của ông bà... rồi các bài toán của cô thày cũng thả neo tâm trí những đứa trẻ Việt vào dòng sông con đò. Ngôn ngữ và cách ứng xử trên con đò cũng khác. Đi đò không chỉ là phương tiện giao thông mà còn là hình thức giao tiếp văn hóa. Giao tiếp này liên hệ đến nhiều đại sự: sinh tử, nhân duyên, nghề nghiệp, danh giá... Đây là mảnh đất cho các tưởng tượng, các ảo tưởng... Mỗi nhà văn có cây bút riêng, mỗi nhà văn “chèo đò” theo một cách riêng.
 
Ở “Qua sông bằng đò”, Đỗ Ngọc Thạch tạo tính ảo ngay từ cách đặt tên truyện. Đây là một tựa đề tuyệt hay. Như một mini công án của nhà Phật. Không qua sông bằng đò thì bằng gì? Qua sông bằng đò thì sẽ làm sao? Một độc giả cắc cớ sẽ phải hỏi ngay khi chưa đọc truyện. Qua-sông-bằng-đò đã là một câu văn trọn vẹn, không e ấp một cách bình thường như các tựa đề quen thuộc, ví dụ “Sang sông" (truyện ngắn lừng danh của Nguyễn Huy Thiệp), hay “Qua sông” (truyện ngắn của Nguyễn Đình Tú). Lời đề từ bằng hai câu ca cổ “Con ơi nhớ lấy câu này / Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua” cũng là một phát súng báo hiệu thảm họa. Con không nghe lời mẹ... thì có ngày đắm đò! Một cảnh giới hư thực được nêu ngay từ đề tài, tựa đề và lời từ.
 
Đề tài quê hương, gốc gác của con người cũng là một chốn văn chương muôn thuở. Dùng lời từ “Chúng ta không lựa chọn cho mình quê hương, nhưng quê hương thì ngay từ đầu đã lựa chọn chúng ta” (Raxun Gamzatov) tác giả khẳng định tính bất khả kháng của việc định danh quê hương. Với nhiều dân tộc khác, có thể thay đổi, có thể phản biện lại Raxun Gamzatov, nhưng với dân Việt thì không: Với chúng ta, đó là định mệnh! Thực tế hơn 150 năm có người Việt xa xứ, và hơn 30 năm có khối người Việt hải ngoại sau tháng 4-1975 cho thấy điều đó.
 
Quan hệ nhân quả, thuyết luân hồi, thuyết may rủi “Tái ông thất mã” là các triết lý, đạo lý sống đầy Việt tính. Đó cũng là một trong các tiêu chí thể hiện của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, và ở đây “mối quan hệ nhân quả luôn luôn mang tính chủ quan” (B. H. Rogers). Tác giả của “Địa linh nhân kiệt”, “Qua sông bằng đò” và “Quà tặng tuổi hai mươi” đã, trên cái kiềng ba chân Việt triết, thổi lên nồi cơm truyện ngắn của mình. Văn chương Đỗ Ngọc Thạch đặt bài ngửa cho sự hư cấu văn học dựa theo các thực tế ngoài đời, vì thế ông có một thế giới phi khách quan trong đó các nhân vật, sự kiện ảo được tung tăng hành xử theo kiểu thật. Đây là một mạo hiểm trong sáng tác: một văn-bản-kiệt-xuất và một bản-thảo-sọt-rác có thể đong đưa giữa hai quan điểm mỹ học.
 
* Nhân vật
 
Trong “Qua sông bằng đò”, nhân vật hai bà - bà béo bà gầy - là một cặp bài trùng độc sáng, và thiển nghĩ đây là lần đầu tiên trong văn xuôi hiện đại Việt Nam. Đó như là biến tướng từ mô hình dân gian thằng cao thằng lùn Tễu - Phỗng, hay mô hình giai thoại Ba Giai – Tú Xuất rất đỗi quen thuộc của văn hóa dân tộc Việt. Bạn có để ý không? Trong vẻn vẹn một không gian ngôn ngữ bé như bàn tay đó, tác giả cho bà béo bà gầy cùng “nói” những bốn lần. Diện mạo ở cặp bài trùng khác nhau, tương phản là để tôn cái đồng thanh tương ứng qua các phát ngôn. Cặp nhân vật ảo này là hiện thân của cái Ác, của thế lực (đồng tiền) trực tiếp khiến con đò suýt gặp nạn, khiến xuất hiện người anh hùng mạo danh để cứu nạn. Lời của hai bà béo bà gầy “Bắt lấy nó! Bắt nó đền cho tôi hai tạ hàng xịn!” sẽ còn văng vẳng mãi nơi dương thế như tuyên cáo vĩnh cửu của cái Ác cho loài người. Chừng nào còn con người, cái Ác còn! Hỡi cái Thiện, hãy cảnh giác!
 
Với  “Địa linh nhân kiệt”, cách đặt tên nhân vật đã khuyến cáo độc giả về vẻ hư hư thực thực của câu chuyện: “(...) ba người thì ở vị trí máy số Một là Duy Nhất, ở máy số Hai là Song Nhị và ở máy số Ba là Thanh Ba”. Kỹ thuật ẩn dụ chức năng nhân vật và chức năng văn học được tác giả đẩy đến cùng: ba nhân vật phải ăn dơ nhau trong một tổ tam tam trực chiến, nhưng lại đầy mâu thuẫn trong cái đích đi tìm giá trị của quê hương. Ở cặp nhân vật hai người thương binh khi ẩn khi hiện thì tác giả lại dùng kỹ thuật khác của chuyện chưởng, truyện ma. “Người bị băng kín hai mắt cho người bị cụt chân vịn vào vai và làm người chỉ đường, hai người dìu nhau bước đi trên con đường lầm bụi…” Họ cũng là người làng tay bị tay gậy với nhân vật Thanh Ba và hai nhân vật ảo trăm phần trăm này đã làm xoay chuyển bước chân tìm về cội nguồn của nhân vật chính. Việc lồng đoạn thơ “Đời lang bạt” của Arthur Rimbaud ở đoạn sau cũng là một thao tác phơi lộ bàn tay đạo diễn, nhưng lại rất... được việc!
* Cấu trúc truyện:
 
Ở cả ba truyện, tác giả trung thành theo lối kiến trúc truyện Trung Quốc cổ điển: hiện thực văn học và hiện thực cuộc sống không là một, được đan cài phi logic và tất cả nhắm đến đoạn kết – nơi gặp gỡ của các nhân sinh quan và thế giới quan làm nên tư tưởng truyện. Các sự kiện chi chít cùng một lúc vừa bạo lực vừa nhân bản, vừa kích hoạt vừa kinh hoàng. Những tác giả của văn học hiện thực huyền ảo thường cố gắng cho độc giả thấy thế giới này qua lăng kính khác, chuyển thế giới này sang một hệ quy chiếu khác. Đỗ Ngọc Thạch cũng làm vậy! Nhờ có các sự kiện, tình tiết và nhân vật tạo ra những sự đồng hiện không gian, đồng diễn thời gian, nên cảm giác bao trùm sau khi đọc ba truyện ngắn nói trên là con đường đi tới cõi Trần thế, Địa ngục và Thiên đường có thể gặp nhau ở nhiều ngã ba. Với đại lộ Thời gian cũng thế: Hiện tại, Quá khứ và Tương lai cũng có nhiều ngã ba nghệ thuật.
 
Cả ba cái kết của ba chuyện đều không có hậu về tình tiết, mà có hậu về chủ đề tư tưởng. Đó là một kỹ xảo của tác giả.
 
Ở “Địa linh nhân kiệt”, câu chuyện kết thức bằng sự ngạc nhiên của hai người bạn vốn tưởng luôn thủ đắc phần thắng nhờ xuất xứ quan văn quan võ của mình. Như vậy, luận đề đâu là địa linh nhân kiệt, đâu là niềm tự hào về quê hương, kể từ đây sẽ chính thức được bày lên bàn tròn tranh luận của ba quan niệm lớn: Tri thức, Danh vọng và Tiền bạc. Và đấy mới là cuộc chiến không bao có người thắng kẻ bại, bởi niềm tự hào quê hương không phải ở bản chất của vùng đất mà ở tình cảm của con người với vùng đất đó. Địa không bằng Nhân!
 
Với cái kết của “Qua sông”, cặp đôi bà béo bà gầy và ông thuyền trưởng tàu Hải Âu không bị chết-trên-văn-bản, tại sao lại để họ “hiện ra” qua các âm vọng? Vâng! Các nhân vật này phải đòi lại uy quyền thật và danh vọng thật của mình, cho dù những “đồ thật” đó từng là phản tác dụng hoặc vô tích sự. Đó là lẽ công bằng, là điều thường tình. Độc giả nên coi các chi tiết ấy là “mẹo” sắp đặt rất phi khách quan của tác giả Đỗ Ngọc Thạch. Và, với tôi, “Qua sông” thành công nhất là chỗ này. Hai yếu tố hiện thực và huyền ảo cùng theo nhau lên tới đỉnh, nhờ tác giả đã đưa được cái kỳ lạ và cái bình thường vào chung một bảng giá trị.
 
Ở “Quà tặng tuổi hai mươi”, trong phần hai, nhà văn đã điềm nhiên nhại cổ tích. Đó cũng là một thi pháp quen thuộc của văn xuôi hiện đại thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, tôi thấy ở phần này có nhiều chi tiết mà độ nhòa ảo thực chưa được nhuyễn, đưa đến những cảm thụ rắc rối, vì chưa chuẩn bị tâm lý cho độc giả. Ví dụ: hình như vì thấy việc để Thần núi đưa H’Thùy và Tô Ngọc về với nhau, về với núi rừng thì sẽ thành một kết thúc có hậu, nên tác giả đã bất ngờ kết truyện bằng một huyền hoặc về người thợ xẻ, “đứng đàn từ bao giờ, và tôi nhìn anh ta và lại không tin ở mắt mình nữa: anh ta giống ông Tô Ngọc y chang!”
 
“Địa linh nhân kiệt” đã pha được chất hài với sự phóng đại – hai điểm làm nên các chú Cuội, các Trạng Lợn trong văn hóa Việt. Nhưng số lượng điển tích đậm đặc, nhiều câu cửa miệng hay thành ngữ Hán - Việt đã làm cấu trúc toàn cục hơi bị rối rít.
 
Với những sắp đặt ảo thực chưa mấy thành quả ở các môn đồ của thi pháp nghệ thuật này, tôi thấy phê bình sau của nhà văn Mỹ B. H. Rogers rất cần thiết:
 
“Chủ nghĩa hiện thực thần kỳ không mang tính phóng tưởng và cũng không truyền tải những cuộc thí nghiệm ý tưởng. Thay vào đó, nó thuật lại những câu chuyện từ góc độ của những người cùng sống trong thế giới của chúng ta và trải nghiệm một thực tại khác biệt so với cái thực tại mà chúng ta gọi là khách quan. Nếu có một con ma trong một câu chuyện hiện thực thần kỳ, con ma đó không hề là một yếu tố huyễn tưởng mà là một thực chứng của đời sống thực tại mà trong đó người ta tin có ma và đã trải qua những kinh nghiệm "thực" về ma.” [ii]
 
Hy vọng rằng, bài viết sơ bộ trong tinh thần đọc truyện này sẽ gợi hứng cho các tìm hiểu tiếp tục về một đề tài không đơn giản, mà cần thiết hơn cả là chỉ ra các đặc điểm chính của lối viết hiện thực huyền ảo Việt tính trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam với các tác giả nêu trên. *)
 
Vancouver, 21-3-2009
 
*) Bản mới nhất, có sửa chữa, bổ sung.


[i] Đỗ Ngọc Thạch: "Người tạc tượng nhà mồ", in chung, NXB Văn hóa dân tộc l986, và “Quà tặng tuổi hai mươi”, NXB Công an nhân dân, l994
[ii] Bruce Holland Rogers (Nguyễn Hoàng Văn dịch): “Thực ra, chủ nghĩa hiện thực thần kỳ là gì?”, báo mạng tienve.org


Đỗ Quyên
Ngày đăng: 22.03.2009
[ Trở lại ] [ Tiếp ]

In tác phẩm Góp ý Gởi cho bạn
xEM THÊM:

Đỗ Ngọc Thạch và lối viết hiện thực huyền ảo Việt ... - trieuxuan.info

trieuxuan.info/?pg=tpdetail&id=1699&catid=6Bản lưu
22 Tháng 2 2009 – Đỗ Ngọc Thạch và lối viết hiện thực huyền ảo Việt tính ..... Với “Địa linh nhân kiệt”, cách đặt tên nhân vật đã khuyến cáo độc giả về vẻ hư ...

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011

Chuyện tình của Thị Mầu - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Chuyện tình của Thị Mầu
Trong Nghệ thuật sân khấu Chèo, nhân vật Thị Mầu là “nổi đình đám” vào loại đặc sắc nhất bởi cả hai lý do hình thức thể hiện và nội dung tư tưởng. Về hình thức, Thị Mầu là một cô gái trẻ đẹp được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ Chèo rất đặc trưng, đa dạng, phong phú và được các nghệ sĩ biểu diễn rất sinh động, tài hoa. Có thể nói, nhân vật Thị Mầu là “đất dụng võ” rất đắc địa của các nghệ sĩ tài năng. Về nội dung, Thị Mầu là biểu tượng của khát vọng tình yêu, là sự phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt của tình yêu đối với những trói buộc khắt khe, vô nhân đạo của lễ giáo phong kiến. Chính vì thế mà cho đến nay, vở Chèo Quan Âm Thị Kính nói chung và nhân vật Thị Mầu nói riêng vẫn chinh phục hoàn toàn khán giả của cuộc sống hiện đại. Hẳn công chúng Chèo không bao giờ quên được sự xuất hiện rất độc đáo của Thị Mầu đã làm sôi động sân khấu Chèo - tâm hồn con người hàng thế kỷ qua:
Này chị em ơi? (tiếng đế: sao?).
Nay tư mai đã là rằm.
Ai muốn ăn oản thời năng lên chùa đấy chị em ơi?
(tiếng đế: Các già lên chùa từ bao giờ nhỉ? – tiếng đế: Mười tư rằm)

Thế mà Mầu tôi mang tiếng lẳng lơ, đò đưa cấm giá,
Tôi lên chùa từ mười ba… tôi lên chùa kia còn thời thấy tiểu mười ba.
Chị em ơi! (tiếng đế: sao?)

Tôi lên chùa thấy tiểu mười ba, mà thấy sư mười bốn ,vãi già mười lăm đấy chị em.
A tôi thấy ông sư còn là mười bốn, vãi già còn là mười lăm.
Tôi muốn cho một tháng có đôi đôi rằm…
Chị em ơi! ( tiếng đế: Sao?)

Tôi muốn cho một tháng đôi rằm, mà trước vào lễ Phật để…sau thăm vãi già đấy chị em.
A nay trước tôi vào mà tôi lễ Phật, này mà để có sau thăm bên vãi già…
Có rất nhiều người mê Chèo, mà cụ thể là mê nhân vật Thị Mầu, đã lấy tên Thị Mầu đặt tên cho con gái của mình. Ông Lê Trào ở Làng Thượng Sơn là một trong số những người mê Chèo, mê nhân vật Thị Mầu như thế. Nhà người ta, thường là cầu con trai vì con gái thay nhau chui ra làm thành một bầy “vịt giời” khiến cho gia chủ không có con trai nối dõi! Nhưng nhà ông Lê Trào thì ngược lại, vợ ông đã mười hai lần sinh nở mà toàn con trai, khiến nhà ông biến thành “trại lính”! Nếu như ông Trào không có thời gian năm năm đã từng trong quân ngũ thì ông không thể khống chế nổi “loạn mười hai sứ quân” này! Ông Trào đặc biệt mê Chèo, không có đêm diễn Chèo nào ở trong vùng mà ông bỏ qua, dù cách làng ông chục cây số, ông cũng “trèo đèo, lội suối” mà đến xem!...
Một lần, có một gánh Chèo nọ diễn vở Quan Âm Thị Kính rất hay, đặc biệt là vai Thị Mầu, khiến cho người xem, nhất là ông Trào “hồn bay phách lạc”! Hết buổi diễn, ông Trào tìm gặp bằng được người sắm vai Thị Mầu và nói: “Vợ tôi đã sinh mười hai lần mà toàn con trai. Nay tôi muốn sinh con gái mà lại muốn nó xinh đẹp, hát hay diễn trò giỏi như Thị Mầu! Vậy Thị Mầu có cách gì giúp tôi được không, tôi xin hậu tạ!”. Người sắm vai Thị Mầu lần đó, chưa kịp tẩy trang, vì muốn cho nhanh xong chuyện, liền nói bừa: “Chỉ có cách này, không biết có hiệu nghiệm hay không là còn tùy thuộc vào bà vợ của ông! Ông hãy đưa ta vào buồng vợ ông, ta sẽ làm phép chui vào bụng bà ấy, tất sẽ sinh ra một ả như Thị Mầu ta!”. Ông Trào nghe nói thấy “có lý” liền nghe theo. Song có một điều mà lúc đó ông Trào không hề biết là: người sắm vai Thị Mầu lần đó là một nam nhân chứ không phải nữ nhân! Vì thế, khi người “nam nhân” này “làm phép” chui vào bụng vợ ông Trào thì quả nhiên hiệu nghiệm, tức sau chín tháng mười ngày, vợ ông Trào đã sinh được một ả Thị Mầu hoàn hảo!...
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhYK3AqUa7m3D2DTn5IkRG4vd_oHHmpo5NeU4DJMlGrbhMvEt1BAsYF9pc67aP94GTwnkpWjNQSGWhkqHOPl7jo2jd5JaaVvXnd91nfULZrwJ46v1rzKzWcZnppQQbfHC8YJKRvlyycA_s/s400/1232174162.img.jpg
Hình: internet
Cô con gái ông Trào được đặt tên chính thức là Lê Thị Mầu, dĩ nhiên là được vợ chồng ông Trào và mười hai người anh yêu thương, chiều chuộng hết mức. Trong ý nghĩ của cha mẹ Mầu và cả mười hai người anh trai, việc đặt tên là Mầu chỉ có ý nghĩa “ước lệ” mà thôi, chứ không ai nghĩ rằng lại muốn cho cuộc đời của Mầu giống như nhân vật Thị Mầu trong vở chèo Quam Âm Thị Kính. Song, cuộc đời lại xảy ra cái điều mà người ta không muốn nghĩ tới!...
Có câu “gái thập tam, nam thập lục”, tức con gái mười ba tuổi là đã ra dáng một thiếu nữ mơn mơn xuân thì. Mầu khi tới mười ba tuổi là đã phát triển đến mức đạt chuẩn: cao 1,67 mét, số đo ba vòng là 86-60-88, đó là số đo mà các cô người mẫu thời nay ao ước!
Ngày đầu tiên Mầu đi lễ chùa cũng đúng là ngày mười ba.
Mầu cũng gặp một chú tiểu đang quét chùa, nhưng chú tiểu này vừa nhìn thấy Mầu thì nhào tới tán tỉnh, sàm sỡ. May mà vừa lúc sư thầy xuất hiện, quở mắng chú tiểu. Chú tiểu sợ hãi bỏ chạy. Nhưng khi sư thầy nhìn kỹ Mầu thì …bám riết lấy Mầu đến nỗi khi sư trụ trì xuất hiện cũng không biết, liền bị sư trụ trì quở mắng thậm tệ! Đuổi sư thầy đi rồi, sư  trụ trì vừa nói mời Mầu vào trong làm lễ cúng Phật thì trời nổi giông bão, gió bụi bay mù mịt!... Mầu đang luống cuống đứng giữa sân chùa thì hai người anh của Mầu kịp xuất hiện, đưa Mầu về nhà!...
Ngày mười bốn, Mầu lại đi lễ chùa. Sự việc lại xảy ra như ngày mười ba, chỉ khác ở đoạn cuối: khi sư trụ trì mời Mầu vào làm lễ cúng Phật thì trời không nổi giông bão mà nắng vàng rực rỡ khác thường, nhìn từ xa, người ta thấy trên khoảng không nhà chùa có đám mây ngũ sắc tụ lại rất lâu! Những người giỏi thiên văn địa lý đều nói đó là điềm lành, Quan Âm Bồ Tát ngài đã giáng trần, nhà chùa chuyến này có tin vui! Quả nhiên, chín tháng sau, trước cổng chùa có một cái thúng lớn, trong thúng là ba đứa trẻ sinh ba, xem chừng như mới sinh nhưng đã rất cứng cáp! Chú tiểu là người phát hiện ra cái thúng trước nhất, liền vào báo với sư thầy. Sư thầy ra xem rồi vào báo với sư trụ trì. Sư trụ trì ra xem, nhìn thấy ba đứa trẻ đều đang chắp tay trước ngực, mồm lẩm nhẩm như đọc Kinh Phật, thì nói: “Quan Âm Bồ Tát gửi chùa chúng ta ba đệ tử của Ngài, mười năm sau Ngài sẽ đến đón. Vì vậy hãy đón vào chùa chăm sóc cho chu đáo!”. Sư thầy và chú tiểu liền đưa ba đứa trẻ vào chùa, từ đó thay nhau chăm sóc tận tình…
Mười năm sau, ba đứa trẻ hồi nào đã lớn thành ba thiếu niên xinh đẹp, khỏe mạnh và thông minh khác thường. Nhà chùa có bao nhiêu Kinh sách ba đứa đều đọc hết và đều thuộc làu làu. Tuy không nói ra công khai, nhưng ai cũng biết trong ba đứa trẻ đó, có một đứa là con của chú tiểu, bởi nó giống chú tiểu như đúc, có một đứa là con của sư thầy, bởi nó giống sư thầy như lột, còn đứa thứ ba thì giống sư trụ trì như hai giọt nước, chỉ có điều nó không già như sư trụ trì mà thôi. Trong thâm tâm, cả chú tiểu, sư thầy và sư trụ trì đều muốn hoàn tục để cưới Mầu, để được công khai làm bố đứa con của mình. Nhưng Mầu thì không thích cưới ai cả, và chỉ muốn đón ba đứa con về ở với mình.
Đúng ngày ba đứa trẻ vào chùa, sau mười năm, Mầu lên chùa. Một chú tiểu mới, thấy Mầu cứ ngó nghiêng mà không nói gì thì hỏi:
- Mầu lên chùa đấy à? Sao không “quậy” như trong vở chèo Quan Âm Thị Kính đi?
- Hôm nay ta không có hứng! – Mầu lạnh lùng nói – Gọi cho ta ba anh em sinh ba ra đây ta gặp!
- Không được! – chú tiểu nói ngay – Sư thầy đã dặn không được cho ba anh em đó ra ngoài gặp bất cứ ai! Mầu muốn gặp ba anh em thì phải hỏi ý sư thầy. Để tôi đi hỏi sư thầy cho! Nhưng phải có điều kiện!
- Điều kiện gì thì nói toẹt ra đi, chắc lại đòi “tòm tem” chứ gì? Mới vào chùa đã nhiễm cái máu “sư hổ mang” rồi! – Mầu thúc giục.
- Thôi được, Mầu đã hiểu ý thì tôi nói thật: cho tôi gửi một đứa con và khi Mầu có thai, tôi sẽ đứng ra nhận là bố cái thai chứ không làm ngơ như bố của ba đứa trẻ sinh ba kia!...
Cuộc thỏa thuận giữa chú tiểu và Mầu diễn ra thật nhanh chóng, ba anh em sinh ba được ra gặp mẹ. Mầu thấy ba đứa trẻ thì nhào tới ôm hôn, nhưng cả ba đứa đều lùi ra và cùng nói, như là đồng ca: “Nam mô A di đà Phật! Nam nữ thọ thọ bất thân! Xin thí chủ giữ đúng phép tắc! Thí chủ có điều gì muốn nói thì nói ngay kẻo không có nhiều thời gian!”. Mầu bỗng cười khanh khách mà nói: “Thí chủ cái con khỉ! Con cái thấy mẹ mà không lạy chào, thật là bất hiếu! Đã bất hiếu như thế thì còn tu cái gì, tu hú!”. Ba anh em lại cùng nói: “Người mẹ mà bỏ con khi còn đỏ hỏn ngoài cổng chùa thì là đã dứt tình mẫu tử. Bao năm qua, đứa trẻ được ai nuôi dưỡng, cho bú mớm thì đó chính là mẫu tử!”. Mầu nghe nói vậy thì lặng người một lúc rồi nói: “Thôi được, các ngươi không nhận người mẹ này cũng không sao, nhưng phải vào làng minh oan cho Mầu, trả lại danh dự cho Mầu, nói với mọi người rằng Mầu không phải là hoang thai mà là Quan Âm Bồ Tát cho môn đồ đầu thai vào Mầu. Sau đó đòi Làng bồi thường trăm lạng vàng cho Mầu vì đã dùng hình phạt dã man đối với Mầu là bỏ rọ trôi sông!”. Ba đứa trẻ sinh ba nghe Mầu nói vậy thì nhìn nhau như có ý dò hỏi xem sẽ trả lời thế nào? Đứa có khuôn mặt giống sư trụ trì nói: “Thực ra chúng ta không dám nhận mẹ vì muốn bảo vệ danh dự cho cha. Bây giờ mẹ đã nói thế thì quả là rất thiệt thòi cho mẹ. Lúc mẹ bị làng phạt vạ, chúng ta còn bé tý chưa làm gì được thì bây giờ phải làm cái việc đó, lẽ ra phải làm từ mười năm trước!”. Đứa có khuôn mặt giống sư thầy nói tiếp: “Sư huynh nói rất đúng. Chúng ta không thể cứ sai lại sai nữa. Phải trả lại danh dự cho mẹ và người bị phạt phải là ba người cha!”. Đứa bé có khuôn mặt giống chú tiểu liền nói ngay: “Hai huynh nói rất hay, nhưng ba người cha đẻ của chúng ta đều đang có chức tước lớn trong tổ chức Phật giáo, không thể đưa ra bất cứ lời phán xét nào tới họ. Cách tốt nhất là nên tiếp tục im lặng. Sự việc dù sao cũng đã xảy ra, đã qua lâu rồi thì cho qua luôn. Mẹ chúng ta tuy có bị tiếng xấu này nọ nhưng cũng đã bình an, thế là tốt rồi. Dĩ hòa vi quý, nếu cứ đem chuyện cũ ra phán xét cho đúng người đúng tội thì muôn đời không bao giờ hết chuyện, oan oan tương báo bao giờ mới dứt?”. Ba đứa trẻ tuy là nói chuyện trao đổi ý tứ với nhau nhưng cố ý cho Mầu nghe thấy và đứa có khuôn mặt giống sư trụ trì còn nói riêng với Mầu: “Thí chủ là người có tướng cách rất quý, sẽ luôn có quý nhân phò trợ, chẳng có gì đáng phiền muộn. Cuối năm nay có người đến cầu hôn thì lấy chồng đi, tất sẽ vinh hiển suốt đời!”… Mầu nghe nói vậy thì biết nói gì nữa bèn cáo lui!...

Cuối năm, làng Thượng Sơn có một khoản tiền lớn nhờ có tới hai công ty nước ngoài tới đầu tư xây dựng hai nhà máy khổng lồ, một cái ở đầu làng, một cái ở cuối làng. Mấy già làng nói, như thế gọi là đầu xuôi đuôi lọt, làng ta từ đây làm cái gì cũng sẽ thuận buồm xuôi gió! Quả nhiên, nhà nhà đều hoan ca, làng trên xóm dưới không lúc nào ngớt tiếng sáo tiếng nhạc. Tất nhiên, các vị trưởng lão đã công phu đi mời một đoàn chèo có nhiều ngôi sao sáng giá tới làng diễn liên tục một tháng ròng!
Một hôm, khi chuẩn bị diễn lớp “Thị Mầu lên chùa” thì diễn viên sắm vai đột nhiên đau bụng dữ dội. Mọi người đều nói đó là bệnh đau ruột thừa, phải đưa đi bệnh viện mổ gấp kẻo nguy đến tính mạng. Đưa người sắm vai Thị Mầu đi rồi, đi kiếm người dự bị thì không biết chạy đâu. Lúc đó, ông Lê Trào có mặt ở gần đó, thấy vậy liền nói: “Để tôi nói con Mầu nhà tôi nó đóng thế cho!”, liền cho gọi Mầu tới. Quả nhiên, Mầu vào vai còn nhuyễn hơn cả người đang giữ vai Thị Mầu của Đoàn Chèo. Riêng ông trưởng đoàn chèo, vừa nhìn thấy Mầu đã chết mê chết mệt, sau đó đã đòi cưới Mầu bằng được. Dĩ nhiên là ông Lê Trào và Mầu đều đồng ý, vừa có chồng vừa được tuyển thẳng thành diễn viên chính thức của đoàn chèo thì còn gì hơn nữa. Sang năm mới, Mầu còn được “hưởng lộc” lớn hơn nữa khi ông chồng được điều lên Bộ văn hóa làm một chức quan nghe nói tương đương hàng đầu cấp tỉnh, còn Mầu thì lên làm chức trưởng đoàn chèo, tùy nghi muốn diễn kiểu nào thì diễn, muốn diễn ở đâu thì đến, tuy nhiên vẫn còn có nhiều trói buộc... Khi nghe có chính sách, chủ trương “xã hội hóa sân khấu”, Mầu thích lắm bởi muốn làm bà chủ hoàn toàn, tuyệt đối của đoàn chèo…
Thời gian trôi đi… Khi đoàn chèo chính thức hoạt động theo qui chế mới, Mầu cho đổi tên thành “Đoàn chèo Thị Mầu” và cho mời ba anh em sinh ba tới, nói: “Giờ các con đã tới tuổi trưởng thành, việc ở lại chùa theo nghiệp tu hành hay hoàn tục trở về cuộc sống dân gian là do các con tự quyết định. Tuy nhiên, dù thế nào thì các con cũng phải tham gia vào tổ sáng tác kịch bản của đoàn chèo của mẹ”. Cả ba anh em cùng nói: “Mẹ nói rất đúng, nhưng tự chúng con không thể quyết định được là ở lại chùa hay về nhà với mẹ, bởi đây là “duyên nghiệp”, có muốn cũng không được và không muốn cũng khó tránh khỏi. Nhưng dù thế nào thì chúng con cũng sẽ là thành viên tích cực của tổ sáng tác kịch bản. Chúng con đã suy nghĩ rất nhiều về đề tài mà đoàn chèo của mẹ đang mang tên: Thị Mầu. Tuy nhiên, có điều chúng con cứ phân vân mãi mà nghĩ chưa thông: Thị Mầu trong vở chèo kia có tình yêu hay không? Và câu này mẹ có cho phép mới dám hỏi? (Mầu ra hiệu cứ nói) Mầu mẹ có tình yêu với bố chúng con hay không?”. Mầu bất chợt bị hỏi như vậy thì chưa thể trả lời, bởi thực ra Mầu cũng không nghĩ là mình sẽ thích chứ đừng nói đến chữ yêu mấy người đó, còn sự thể ra như thế là do họ dồn ép Mầu quá đáng, mà Mầu thì không có kinh nghiệm tự vệ, phòng thân!...
Vui chân, Mầu tới chùa lúc nào không hay. Một chú tiểu thấy Mầu tới thì hỏi: “Hôm nay đã tới mười ba đâu mà Mầu đã lên chùa?”. Mầu cười nói: “Từ nay ta đi lễ chùa không cần kể là ngày nào! Được chưa?”. Chú tiểu thấy vậy thì chạy vào gọi sư thầy.
Đỗ Ngọc Thạch
  nguồn: YuMe.Vn

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

Cắm sừng - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

CẮM  SỪNG

Truyện ngắn ĐỖ NGỌC THẠCH 


1. Các tổ chức Hội có tác dụng gì?
Khi nghe nói có “Hội những người cô đơn”, người ta ủng hộ rất mạnh và xin vào Hội rất đông với lý do vào Hội sẽ bớt, hoặc hết cô đơn. Nhưng thực ra phải hiểu là: đó là Hội chỉ gồm những người cô đơn và việc vào Hội là để nỗi buồn của “sự cô đơn” ở từng Hội viên đạt đến độ huyền diệu nhất, hoặc nói theo kiểu con nhà võ thì là đạt đến “cảnh giới cao nhất”, hoặc nói theo kiểu nhà văn thì là đến độ “toàn thiện, toàn mỹ”, đến trình độ nghệ thuật bậc thầy! 
Cũng vậy, khi nghe nói có “Hội những người bị cắm sừng”, người ta cũng ủng hộ rất mạnh và xin vào Hội rất đông với lý do: vào Hội sẽ bớt hoặc hết bị cắm sừng. Nhưng thực ra phải hiểu là: đó là Hội chỉ gồm những người đã bị cắm sừng và việc vào Hội là để nỗi đau của cái sự “bị cắm sừng” kia được xoa dịu đi phần nào mà thôi!
Như thế, có thể “định nghĩa” các tổ chức Hội nhằm duy trì trạng thái ban đầu và nâng cấp (nếu có thể)  “bản sắc”, “đặc trưng” của các thành viên cho đến tận cuối đời!
2. Người bị cắm sừng có biết mình bị cắm sừng hay không?

Đây là loại câu hỏi không có câu trả lời dứt khoát, tức đáp án không chỉ có một: không biết, biết và biết chút ít, không chắc chắn! Đại loại là có tối thiểu ba đáp án, thứ nhất là không biết (đó là trường hợp ông chủ tịch Hội), thứ hai là biết (đó là trường hợp ông Phó Chủ tịch Hội) và thứ ba là biết chút ít và đang phải thuê Công ty Thám Tử Nhị Lang Thần điều tra làm rõ (đó là trường hợp của ông Thư ký Hội).
Về trường hợp của ông Chủ tịch Hội, tức không hề biết chút gì về chuyện mình bị cắm sừng: Ngay từ ngày cưới, đã có rất nhiều tiếng xì xào rằng cô dâu đang cắm sừng nhưng chú rể làm sao mà tin được người con gái rất xinh đẹp và đức hạnh kia đang sắp trở thành bà phó Chủ tịch Quận phu nhân lại có thể đang làm cái hành động đê tiện là cắm sừng chồng mình cơ chứ? Rồi những tháng năm hạnh phúc cứ trôi qua vùn vụt, mỗi lần hoa đào nở là đứa con có tên là Hạnh Phúc lại thêm một tuổi. Khi đứa con Hạnh Phúc tới 50 tuổi cũng là lúc song thân của nó làm Đám cưới Vàng, tức kỷ niệm 50 năm ngày cưới! Đám cưới Vàng khiến cho tất cả ai tới dự cũng xúc động mãnh liệt và người vợ, người mẹ là người xúc động mạnh nhất bởi bà không thể giữ kín mãi điều bí mật kinh hoàng này: trước lúc “động phòng” với chú rể chỉ hơn một giờ đồng hồ, cô dâu đã hiến dâng trinh tiết của mình cho Mối tình đầu thơ mộng – anh bạn ngày xưa cùng chung một lớp! Khi đã nói cho người con trai đã 50 tuổi biết rõ sự thật đã giấu kín suốt 50 năm đó, người mẹ đã nói với người chồng bị cắm sừng suốt 50 năm qua: “Tôi đáng bị trừng phạt nặng, đáng bị tùng xẻo (*) tôi cũng không oán thán điều gì!”. Nhưng người chồng bị cắm sừng kia đã nói ngay: “Nếu như tôi biết em đã cắm sừng tôi ngay sau đêm tân hôn thì rất có thể em đã bị băm thành trăm ngàn mảnh! Nhưng sau 50 năm chúng ta chung sống với nhau thì trên từng xăng-ti-mét cơ thể ngọc ngà của em đều có dấu môi yêu của ta, lẽ nào ta lại phũ phàng với nó! Và bây giờ, ta đang ngất ngây hạnh phúc của Đám cưới Vàng, chẳng một lời nói xấu nào nhằm hại người vợ chung thủy của ta lại lung lạc được ta!”.
Tuy nhiên, ngày hôm sau, ông chồng của Đám cưới Vàng nhận được một mảnh giấy: “Ông không xử tội tôi nhưng tôi không thể tha thứ cho mình! Tôi không xứng đáng được nhận danh hiệu “Tiết hạnh khả phong” mà ông và Nhà nước ban tặng! Vả lại, tôi cũng muốn được sống lại với Mối tình đầu bởi ông biết không, trên đời này không có gì đẹp bằng Mối tình đầu!”. Ông chồng không tin là bà vợ tóc bạc của mình đã “bỏ nhà theo giai” và cứ nghĩ là bà vợ sau Đám cưới Vàng muốn tạo “cảm giác mới lạ” cho cuộc sống vợ chồng sau 50 năm nhàm chán cho nên đã “thích đùa” như vậy? Nhưng ông chờ một tuần liền mà không thấy bà vợ về và ông đang tính gọi Cảnh sát nhờ tìm người mất tích thì thấy trên một tờ báo có bài viết nhan đề “Tình già” nói về hai người tình gần 70 tuổi mới cưới nhau vì khi mới yêu nhau, hai người không được hai gia đình đồng thuận, bà phải đi lấy chồng, ông rồi cũng phải đi lấy vợ để đến nỗi sau đúng 50 năm mới được danh chính ngôn thuận “động phòng hoa chúc”! Lúc đầu, nhìn hình người đàn bà tóc đã bạc đang tung tăng bên người tình ở Thung Lũng Tình Yêu trên Đà Lạt, ông không tin đó lại là người vợ đã mất tích của mình. Nhưng khi nhìn bức ảnh thứ hai chụp hai người đang hôn nhau thì ông nhận ra ngay bởi chỉ bà mới có kiểu hôn cuồng nhiệt ấy!...Đó chính là lý do trực tiếp để  “Hội Những người bị cắm sừng” nhanh chóng ra đời!
3. Người bị cắm sừng biết mình bị cắm sừng thì thế nào?
Đó là trường hợp ông Phó Chủ tịch Hội những người bị cắm sừng. Khi hai người gặp nhau thì mới té ngửa vì hóa ra là người cùng tuổi, cùng quê (chỉ khác xã), cùng lấy vợ một năm và cùng bị cắm sừng một ngày, chỉ khác một điều là ông Phó Chủ tịch Hội biết mình bị cắm sừng ngay trong đên tân hôn. Quá đau xót, nhưng không muốn bố, mẹ và cả họ nhà trai “mất mặt” ông đã lên đường ra trận ngay sau ngày cưới với hy vọng khói lửa chiến trường xe che lấp đi “vết thương lòng”! Nhưng càng chiến đấu, không những ông không bị thương, bị chết như bao người lính khác mà ngày càng lên chức! Và khi ông đã là “Tướng quân” rồi thì ông không nỡ về nhà để trừng phạt người vợ đã và đang cắm sừng ông gần kín cái đầu sớm hói bóng nhẵn! Sau 50 năm, ông vẫn cho tiến hành Đám cưới Vàng và “cắn răng” chấp nhận những cái sừng của mình với lời biện minh: Con người ta ai cũng phải chịu một nỗi đau, nỗi bất hạnh nào đó! Nếu ta không bị cắm sừng thì thế nào cũng bị què cụt hoặc có bệnh nan y chẳng hạn! Khi gặp ông Chủ tịch Hội những người bị cắm sừng, ông lập tức trở thành Phó Chủ tịch Hội cứ như có sự sắp xếp từ kiếp trước!
4. Người bị cắm sừng nửa biết nửa không biết mình bị cắm sừng?
Đó chính là trường hợp của ông Thư ký Hội. Ngay sau ngày cưới, chú rể đã phát hiện ra nhiều “dấu hiệu” mình bị cắm sừng nhưng theo dõi hoài, thuê cả thám tử tư mà vẫn không bắt được “quả tang trai trên gái dưới” cho nên vẫn không thể buộc tội! Tuy nhiên, lần nào “chung chăn gối”, người chồng vẫn có cảm giác thấy “mùi lạ” trên người vợ? Chính vì thế, việc điều tra truy tìm thủ phạm của mùi lạ vẫn tiếp tục triển khai. Tuy nhiên, cứ mỗi khi gần bắt được “hung thủ” thủ nó lại biến mất cứ như là thần linh, ma quỷ!... Song, lòng kiên trì đã được đến đáp, sau 50 năm kiên trì mai phục, đúng ngày Đám cưới Vàng, thủ phạm đã bị bắt gọn: tên gian phi nằm trong ngăn đặc biệt dưới chiếc bàn mà cũng là xe đẩy chở chiếc bánh ngọt khổng lồ 50 tầng, đã không kìm được lòng ham muốn đã chui ra và ôm chặt cứng lấy cô dâu khi cô dâu cầm dao cắt bánh ngọt mời thực khách!
Khi ba người cùng cảnh ngộ gặp nhau, họ đã mau chóng đồng cảm và nhờ thế mà Hội những người bị cắm sừng mới được thành lập một cách nhanh chóng và cũng mau lẹ hoàn thiện mọi khâu từ A đến Z. Tuy nhiên, còn một khâu rất quan trọng chưa làm được là tìm ra người “đủ tài đủ đức” phụ trách tờ báo – cơ quan ngôn luận của Hội. Làm Chủ tịch Hội, phó Chủ tịch Hội, rồi Thư ký Hội cho tới các trưởng Phòng, Ban nghiệp vụ đều không khó và ai cũng có thể làm được vì chỉ cần “bề dầy thành tích” và có “lòng thành”. Nhưng làm Tổng biên tập tờ báo của Hội ngoài những tiêu chuẩn như mọi người còn phải có một phẩm chất đặc biệt là có khả năng “dơ đầu chịu báng”, tức sẵn sàng chịu mọi kiểu “búa rìu dư luận” từ bốn phương tám hướng! Nói nôm na là phải có một cái đầu Thép, giống như bên võ thuật, phải luyện thành môn võ “Thiết đầu công”(**)!
5. “Bị cắm sừng” hay là “Được cắm sừng”? 
Nửa năm treo bảng cầu hiền và tung người đi khắp nơi săn đầu người có môn võ “Thiết đầu công”, cuối cùng thì cũng tìm ra nhân tài: đó là một người tuổi còn trẻ, vừa mới tới tuổi “Tam thập nhi nhập”nhưng có những dấu hiệu rất đặc biệt: mái tóc rất dày, rất mượt óng nhưng những sợi tóc không giống như những sợi tóc thông thường mà có hình dáng như những cái sừng trâu, sừng bò! Hỏi kỹ ra mới biết đời cha, cả đời ông và cả đời ông cố của người thanh niên này đã có mái tóc như thế! Người Chủ tịch Hội kinh ngạc thốt lên: “Sừng nhiều bằng tóc!”. Tức thì người Phó Chủ tịch Hội và người Thư ký Hội đồng thanh reo lên: “Sừng nhiều bằng tóc! Người ta cần tìm chính là đây!”. Và sau đó, người thanh niên có sừng nhiều bằng tóc đã bốn đời được chọn vào vị trí Tổng biên tập tờ báo của Hội! 
Từ ngày Hội những người bị cắm sừng có Tổng biên tập tờ báo của Hội là người có sừng nhiều bằng tóc, tờ báo của Hội nhanh chóng trở thành một trong những tờ báo có nhiều người đọc nhất hành tinh. Tiền bán báo của Hội đã nhanh chóng tới những con số hàng tỷ, chục tỷ rồi trăm tỷ! Ban lãnh đạo Hội đã có thể thành lập những Quỹ từ thiện lớn, trước nhất là giúp những Hội viên nghèo vươn lên làm giàu, sau đó là góp phần cải thiện cuộc sống của những người nghèo, người tàn tật trong xã hội! Trong một lần làm lễ khai trương một Bệnh viện chữa bệnh miễn phí cho người nghèo do Hội những người bị cắm sừng tài trợ, một vị lãnh đạo hàng đầu của tỉnh đã xúc động thốt lên: “Nếu không có Hội những người bị cắm sừng, cụ thể là những người chồng bị cắm sừng thì những người nông dân nghèo ở vùng sâu vùng xa này làm gì có cơ hội được chăm sóc sức khỏe bằng những thành quả của Y học hiện đại! Vậy chúng ta hãy cầu cho Hội những người bị cắm sừng phát triển không ngừng, tức sẽ ngày càng có nhiều người bị cắm sừng!”. Lúc tại buổi lễ, người ta nghe trong tiếng ồn ào náo nhiệt nên chưa có thể lĩnh hội trọn vẹn ý tưởng của vị cán bộ lãnh đạo của tỉnh, nhưng khi về nhà bật lại băng ghi hình, máy ghi âm thì quả là có cái gì đó khó giải thích: Chẳng lẽ ta lại cầu cho nhiều người bị cắm sừng? Nếu thế thì việc bị cắm sừng đâu có còn là một nỗi đau, một nỗi buồn mà là một điều tốt lành? Nếu thế thì phải đổi lại tên Hội thành “Hội những người được cắm sừng”?
6. Các tổ chức Hội có tác dụng gì?
Có những câu hỏi mà câu trả lời không bao giờ thỏa mãn người hỏi. Đó là câu hỏi “Các tổ chức Hội có tác dụng gì?”.
Đem câu hỏi này hỏi một nhà Nho, sẽ được câu trả lời bằng bài Quan Thư (***):
  “Quan quan thư cưu. Tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ. Quân tử hảo cầu…” 
Đem câu hỏi này hỏi một nhà Sư, sẽ được câu trả lời rằng: “Nam mô a di đà Phật… Quay đầu là bờ!”(****). 
Đem câu hỏi này hỏi những người ở Hội những người bị cắm sừng, sẽ thấy họ làm một động tác như là phản xạ tự nhiên: sờ tay lên đầu rồi xoa xoa nhẹ nhàng đoạn hỏi lại: “Tôi đố ông biết tôi bị đau đầu vì tập Thiết đầu công hay bị cắm sừng?”. Ai mà biết được vì sao?
 
Chú thích:
_____________________________________

(*) Tùng xẻo (còn gọi là lăng trì hay xử bá đao): là một trong những hình phạt tàn khốc và dã man được dùng rộng rãi ở Trung Quốc thời cổ xưa từ năm 900 cho đến khi chính thức bãi bỏ vào năm 1905. Từ ngữ trong tiếng Hán "lăng trì" có nghĩa lấn lên một cách chậm chạp.
Đây cũng là hình thức ghê rợn vào bậc nhất trong các án tử hình, phạm nhân sẽ vô cùng đau đớn vì không được chết nhanh chóng, có trường hợp xẻo tróc nửa phần thịt trên cơ thể mà phạm nhân vẫn còn giãy dụa gào thét. Mức độ tàn bạo của nó thì không có gì có thể sánh nổi; ngoài việc xẻo từng miếng thịt trên người tử tội, đao phủ còn có nhiệm vụ là giữ cho tử tội không được chết một cách nhanh chóng, tức là sau bao nhiêu nhát xẻo thì nạn nhân mới được chết.
Lăng trì đôi khi được dùng như một nhục hình để hành quyết người còn sống, hoặc như một hình thức lăng mạ phạm nhân sau khi bị xử chết. Những kẻ phạm những tội như: phản quốc, nổi loạn chống vua, sát nhân hay giết cha mẹ v.v... đều bị pháp luật thời đó luận án và xử lăng trì.

(**) Thiết đầu công: Với những ai yêu thích kungfu Thiếu Lâm, hẳn không thể bỏ qua những dịp thưởng thức các màn biểu diễn hoặc các pha tỉ thí võ nghệ dùng Thiết đầu công của những võ tăng nơi đây.
Trong khi ở các thế võ, bài quyền, chiêu cước khác, đầu là bộ phận trọng yếu của cơ thể tránh không để đối phương tấn công vào thì Thiết đầu công lại hoàn toàn ngược lại, đầu chính là vũ khí, là một quả trùy thép lợi hại có thể đập vỡ đá tảng, húc chết đối thủ.
Thiết đầu công Thiếu Lâm Tự lấy đầu làm vũ khí tấn công đối thủ, tuy nhiên không có nghĩa là không dùng tới quyền, cước. Thiết đầu công là bài võ lấy đập đầu, đâm đầu, lao đầu vào đối thủ làm nội dung chính, kết hợp với các động tác toàn thân tạo ra 5 thế võ cơ bản: Đồng tử bái Phật, Kim Cương cử đỉnh, La Hán bao đỗ, Kim Đồng kích cổ, Kim Cương chàng chung.
(***) Quan thư :
Quan quan thư cưu. Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ. Quân tử hảo cầu.
Sâm si hạnh thái. Tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ. Ngụ mị cầu chi.
Cầu chi bất đắc. Ngụ mị tư phục.
Du tai! Du tai! Triển chuyển phản trắc.
Sâm si hạnh thái. Tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ. Cầm sắt hữu chi.
Sâm si hạnh thái. Tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ. Chung cổ lạc chi.


Dịch thơ:

Thư cưu cất tiếng quan quan
Hòa cùng sóng vỗ vọng vang đôi bờ
Dịu dàng thục nữ đào thơ
Sánh cùng quân tử duyên tơ mặn mà.
Ngắn dài rau hạnh gần xa
Với tay vớt lấy cũng là khó mong
Cầu mong thức lại chờ trông
Cầu mong chi lại khó lòng gặp nhau.
Ngày đêm dằng dặc cơn sầu
Ngày đêm trằn trọc rầu rầu sớm khuya
Hái về, rau hạnh hái về
Cùng nàng thục nữ duyên thề sắt son
Ước duyên cầm sắt vuông tròn
Đêm khua chiêng trống vui lòng mỹ nhân

(Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu)
(****) Quay đầu là bờ  (Hồi Đầu Thị Ngạn) : Biển khổ mênh mông, quay đầu là bờ giác, chỉ cần anh có thể toàn tâm sửa đổi những lỗi lầm của quá khứ, con đường ở phía trước vẫn sáng ngời và lạc quan ! ...

_______________________________________

Sài Gòn, tháng 7-2010 
 Đỗ Ngọc Thạch

Nguồn trích dẫn: vietvanmoi

Thứ Bảy, 22 tháng 10, 2011

Lột da mặt - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Lột da mặt  - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

alt alt

Lột da mặt
 truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch

Home Truyện ngắn
 
Lột da mặt
truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch 


Dạo  này, cứ vào khoảng nửa đêm giờ tý, trên đường Đồng Khởi con đường phố trung tâm của Sài thành hoa lệ người ta lại thấy xuất hiện hai người một ông già điên khoảng hơn sáu mươi và một cô gái đi sau, cách khoảng mươi mét. Cô gái mới nhìn đã thấy cực kỳ xinh đẹp, im lặng đi theo ông già như một cái bóng Ông già tuy quần áo rách rưới nhưng thân hình còn rắn chắc, cứ vài phút lại thấy ông già múa tít chân tay theo những thế võ và mồm thì hô lên những câu trong bài thiệu  "Thảo bộ Phượng hoàng" :
           Phượng hoàng tranh cước vĩ
           Mãnh hổ khai đại phi
           Song long truyền bảo đỉnh
           Đoạt chấn vũ uy trì...
Múa xong bài võ, ông  đưa tay ngang mày như dõi tìm ai đó đoạn thét lên một tiếng cực lớn rồi tung người lên cao như con phượng hoàng cất cánh Cô gái thấy vậy thì ôm mặt khóc, vai rung lên !...
* *
Ông  già tên gọi Mười Lành một trong những môn đệ giỏi của ông Hương Mục Ngạc, một võ sư nổi tiếng An Vinh của đất võ Bình Định với câu thành ngữ  "Roi Thuận Truyền, quyền An Vinh" (Thuận Truyền và An Vinh là những địa danh nổi tiếng trong làng võ Bình Định). Tổ tiên của ông  Mười Lành là thuộc hạ của quân Tây Sơn. Sau khi nhà Tây Sơn đổ, nhà Nguyễn truy bắt tướng sĩ  của nhà Tây Sơn rất ngặt, họ hàng nhà ông Mười phải trốn tránh vào miền núi rừng hoang vắng mới thoát...
Khi đã gần sáu mươi tuổi, ông Mười Lành bỗng cảm thấy bứt rứt chân tay, lòng dạ nôn nao. Ông gọi anh con trai cả tên gọi Hai Quyền đến nói :
- Dòng họ nhà ta đã bao đời tung hoành thiên hạ. Nay con đã lớn sức dài vai rộng chẳng lẽ cứ sống vùi nơi xó rừng này sao ?
Hai Quyền vòng tay trước ngực nói
-Thưa cha, con vẫn nghĩ như vậy Không thể cứ sống ẩn dật  với cái nghề đốn củi, săn thú và cuốc đất mãi được. Con nghe có người thành phố về nói Bây giờ đất nước mình có nhiều  biến động  lắm !...
-Con tính đi đâu Làm gì ?
-Thưa cha, người ta nói  ở  thành phố ngày đêm ầm ầm náo nhiệt. Như thế, tất phải cần những người  tráng kiện dũng mãnh như con !
Nói rồi Hai Quyền cởi phăng áo, xuống tấn, lên gồng, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn, đoạn vung tay múa chân đi bài quyền gia truyền  "Phượng hoàng",  mồm thì hô vang những câu thiệu
Phượng hoàng tranh cước vĩ
Mãnh hổ khai đại phi...
Người cha nhìn con gật đầu hài lòng, nhẹ vuốt chòm râu bạc, nói :
- Con hãy bay đi như phượng hoàng tung cánh Nhưng không được làm hổ danh cha ông, dòng họ, Nếu phạm vào lời cha dạy, hối không kịp đâu nghe con !
Ông  Mười Lành chỉ có ba người con Hai Quyền, Ba Cước và Phượng Vân. Trong ba đứa, ông chỉ còn hy vọng vào Hai Quyền vì Ba Cước, trong một lần  nóng giận ông đã lỡ tay  đánh  nó thành tật, còn  Phượng Vân là nữ nhi tung hoành sao được Suốt cả đời chỉ sống nơi thôn dã hẻo lánh, ông không thể hình dung  nổi thành phố nó như thế nào Vì thế, sau khi Hai Quyền khăn gói lên đường, ngày ngày ông luôn  ngóng trông tin tức thằng Hai Quyền ...
Lúc đầu ông Mười Lành còn nhận được tin về Hai Quyền Nó được tuyển vào hải quân Quy Nhơn. Rồi  nhờ cứu một nhân vật quan trọng trong vụ trấn lột của một băng cướp lớn, anh ta được chuyển sang hải quan Quy Nhơn, rồi sau đó chuyển vô Cảng Sài Gòn .Từ ngày Hai Quyền vô Sài Gòn, ông  Mười không nhận được tin tức gì về nó nữa.
Ba năm trôi qua, Hai Quyền vẫn bặt tin. Một chiều, ông  Mười đang ngồi nhâm nhi xị rượu bỗng có một con quạ  đen bay ào đến đậu lên nóc nhà, nhìn ông chòng chọc. Ông thấy gai người. Nhặt hòn đá, ông tính liệng chết con vật đáng ghét  kia thì nhanh như chớp, nó đã lao vút xuống mổ đúng vào cánh tay ông Chưa kịp định thần, ông Mười đã thấy con quạ bay vút đi, về hướng Nam Ông chỉ còn kịp nhìn thấy một chấm đen trên nền trời xám xịt.
Ông Mười gọi Phượng Vân nói
- Anh Hai con chắc là gặp nạn Con phải đi tìm anh con !
Phượng Vân giật mình thảng thốt, đoạn nói nhỏ :
- Sài Gòn đâu cha Con bé nhà quê nhút nhát như con làm sao biết đường tới  Sài Gòn  ?
- Đường mồm chớ đâu nữa Nói rồi ông Mười lẳng lặng cầm con dao quắm và đi về hướng núi. Phượng Vân hiểu như vậy là ý của ông phải được thực hiện bằng mọi giá !
***
Xuống Quy Nhơn, Phượng Vân được một người thủy thủ già tốt bụng đưa xuống tận Cảng Sài Gòn .
Khi biết ý định của Phượng Vân, người thủy thủ già nhìn cô ái ngại Ông định tìm một lời khuyên và nghĩ cách giúp đỡ  cô gái đơn thương độc mã  nơi đất khách quê người này, thì Phượng Vân, như đọc được ý nghĩ của ông, đã dứt khoát chia tay ông già tốt bụng Cô xách giỏ đồ bước lên bệ xi măng  bến cảng mà có cảm giác như bị hẫng chân !.
Phượng Vân lững thững đi về phía pho tượng Trần Hưng Đạo đang đứng trên bệ cao, chỉ tay ra sông Sài Gòn. Trời đã sập tối từ bao giờ, gió từ sông thổi lên khiến cô thấy gai người. Cô đang tính hỏi thăm đường đến nhà trọ thì bỗng giật mình khi thấy có người nắm lấy cánh tay mình, nói :
-"Xào"  đi em !...Hôm nay hết tiền "dù" !  Kẹt quá !...
Phượng Vân không hiểu những tiếng đó có nghĩa gì và cô ngạc nhiên hơn khi thấy đó là một ông già, mắt đeo cặp kính loáng ánh điện, một tay chống can, một tay nắm lấy tay cô, miệng như muốn ghé sát  vào má cô.
Phượng Vân nghĩ có lẽ ông lão nhầm mình với người quen của ông nên cô khẽ đẩy ông già ra và  nói
-   Dạ thưa cụ cụ nhầm con với ai rồi đó !
Ông già sửa lại mục kỉnh, nhìn Phượng Vân rồi nói :
     Thế ra cô không phải là cái cô vẫn đi  "dù" với tôi à Cô  ấy vẫn thường đứng đây mà ?
    Ông già định nói thêm gì nữa thì có một người cao to đi đến, gạt ông ra, nói :
-  Bố già ra gốc cây kia mà ngồi đợi. Để con bê non này cho tôi !
     Vừa dứt lời, hắn đã nắm tay Phượng Vân kéo đi.  Phượng Vân  bị lôi đi ba bước, song cô đã kịp trấn tĩnh giật phắt tay ra, nhảy phóc  một cái lùi lại ba bước xuống tấn, nhìn đứa lạ mặt như muốn đá cho nó chết tức Thằng kia thấy vậy thì thốt giật mình song hắn trấn tĩnh ngay, nhăn nhở cười, để lộ hàm răng lổn nhổn  đã rụng phân nửa :
-Ủa  Con nhỏ ngon lành ha Nhỏ ơi, em chưa biết danh anh Tư  "trôi sông"  đất  Cảng sao ?
         Vừa dứt lời hắn vung tay chân tít mù như chong chóng rồi bất ngờ  lao vào Phượng Vân như cơn lốc. Nhưng cô gái con nhà võ đã nhanh hơn làn gió, né người tung một cú đá! Thằng Tư  "trôi sông"  đã bị cú đá hất tung lên cao rồi rơi tõm xuống bể nước khu tượng đài. Một tốp người đứng quanh từ bao giờ đồng thanh "á" lên một tiếng tròn mắt kinh ngạc ngó nhìn cô gái xinh đẹp xa lạ.
Biết là đụng phải bọn côn đồ, Phượng Vân tính rút êm nhưng không kịp nữa rồi, một bọn hơn chục thằng đã quây tròn lấy cô gái. Nhìn những bộ mặt gớm ghiếc như quỷ sa tăng, máu giận bốc lên, Phượng Vân vận công lực, mồm thầm gọi tên cha rồi tung đòn như mưa sa. Bọn du đãng bến cảng thảy đều bàng hoàng thảng thốt trước lối đánh tiêu diệt, chỉ có cái chết mới ngăn được võ sĩ ngừng lại Khi Phượng Vân ngừng lại cũng là lúc có tiếng nói vang lên :
- "Quyền chiến Tây Sơn" !  Giữa đất Sài Gòn sao lại có người sử dụng bài quyền  "Phượng hoàng"  thần tình như vậy ?
Dứt tiếng nói một bóng người cao lớn bước tới bên Phượng Vân và nghiêng mình chào cô. Nhìn cách chào Phượng Vân giật mình vui mừng vì nhận ra  dáng dấp quen thuộc của lò võ "Quyền An Vinh". Cô đáp lễ và khẽ hỏi
- Ông là người An Vinh ?
Người lạ mặt đáp:
- Không phải. Nhưng tôi là đệ tử của anh Hai Quyền, con ông Mười Lành An Vinh. Nhìn cách    đánh của cô tôi biết ngay cô là người An Vinh!...
- A! Anh tôi đâu? Anh Hai Quyền của tôi đâu?- Phượng Vân sung sướng reo lên.
- Chuyện dài lắm. Mời cô hãy theo tôi, nhanh chóng chuôn khỏi bãi chiến trường này. Công an mà  tới  là  lôi thôi to. Dứt lời, người lạ mặt quay gót bước nhanh như gió. Phượng Vân không nói gì, cô lăng lẽ bám gót người lạ mặt.
Người lạ mặt dẫn Phương Vân vào một con hẻm dài và vắng. Đi vài bước, Phương Vân lại thấy một tấm bảng hiệu bằng đèn màu nhấp nháy, mờ ảo: "Café Môi Tím", "Café Tuổi Hồng", "Café Má Đào",v.v...Tiếng nhạc chỗ thì ai oán sầu thảm, chỗ thì la hét chát chúa!... Nhìn vào bên trong chỉ thấy sương khói mờ ảo như miền sơn cước... Tới một căn nhà có tấm biển    xanh "Massage Mỹ Tiên", dưới ánh đèn dịu nhẹ, thấp thoáng vài cô gái đẹp như tiên giáng trần, người kia ra hiệu cho Phượng Vân bước vào. Cô ngần ngại giây lát rồi miễn cưỡng bước vào, ngỡ ngàng  trước quang cảnh mơ mộng như động tiên. Người kia ra hiệu cho Phượng Vân ngồi xuống  một cái ghế rồi lách vào buồng trong. Phượng Vân đang ngơ ngác quan sát xung quanh và thấy mắc cỡ khi thấy các cô gái đây đều mặc những bộ đồ hở hang, khêu gợi!...Bỗng từ một cái bàn nơi góc phòng, có ba người  đang ngồi uống  bia lon, vọng lại tiếng nói lè nhè:
- Tui chấm con nhỏ mới vô!... Bao nhiêu cũng chiều!...
   Phượng Vân giật mình hoảng sợ và cô lờ mờ nhận ra nơi cô đang ngồi là cái gì. Cô nhấp nhỏm toan đứng dậy thì có tiếng nói ỏn ẻn vang lên:
         -  Dạ thưa tiên sinh Đó là em gái ông chủ mới nhà  quê tới tức thì. Rồi em nó sẽ tiếp tiên sinh !...
             Rồi tiếng nói ấy tiến lại phía Phượng Vân
         - Phượng Vân đó à em Cha Em gái anh Hai Quyền của chị xinh đẹp quá ta Vô trong này đã !...Chị  làm vợ anh Hai của em hơn hai năm rồi mà giờ mới biết mặt em gái ảnh. Chỉ tại xa xôi cách trở quá phải không em ?
          Đó là  một người đàn bà mập mạp,  trắng trẻo và cũng có nhiều nét hấp dẫn của nữ tính: đôi mắt ướt lúng liếng, đa tình, cặp môi mọng đỏ chóe, còn cổ ngực, mông đầy sung mãn...
          Với sự khéo léo có sức điều khiển người khác của chị Hai  Quyền Phượng Vân đã vô phòng trong và theo chị Hai đi thay đồ, tắm rửa, ăn uống rồi ngồi tâm tình kể chuyện rất thân mật từ bao giờ. Chị Hai luôn có những lời nhẹ nhàng êm ái thật lọt tai !... Phượng Vân chưa kịp hỏi anh Hai của mình đâu thì cô đã thấy đầu óc mệt mỏi người như mây bay lãng đãng và rồi cô thiếp đi lúc nào không biết nữa !...
             Khi   Phượng Vân mơ màng tỉnh lại, cô mở mắt và giật mình kinh ngạc khi thấy mình bị lột truồng không còn một mảnh vải, và nằm cạnh cô là một thằng đàn ông mập ú, mặt bự tóc cắt cao đang nằm nhả khói thuốc lên trần nhà. Cô thấy uất nghẹn trong cổ, muốn nói mà ú ớ  không nói được, muốn bật người dậy mà chân tay như không phải của mình. Cô trừng trừng nhìn thằng đàn ông rồi mắt trào lệ...
           Thằng đàn ông kia ngoảnh lại nhìn Phượng Vân, thấy vậy thì cười tít mắt, lấy tay xoa má, xoa ngực cô rồi  hôn chùn chụt lên khắp mặt, khắp người cô mồm nói líu ríu
           Tốt Tốt...đẹp quá Tuyệt quá !...
           Nói rồi, hắn lại đè cả khối thịt đồ sộ của hắn lên người cô gái, vừa vặn vẹo, lăn lộn vừa ré lên những tiếng cười man rợ !...
           Đến lúc Phượng Vân hoàn toàn tỉnh táo thì cô lại thấy mình bị trói chặt  vào một cái ghế bành. Đứng trước mặt cô là người đàn ông dẫn đường, người đàn bà nhận là vợ Hai Quyền và một người đàn ông to lớn khác. Thấy Phượng Vân đã tỉnh, người đàn bà nhoẻn miệng cười, nói
          -  Phượng Vân em Đây là anh Hai Quyền của em nè
           Nói rồi thị đẩy nhẹ người đàn ông cao lớn tới trước mặt Phượng Vân. Phượng Vân nhìn lướt qua người đàn  ông này, rồi quay sang người đàn bà, mắt tóe lửa
          Không phải !...Con quỷ cái Mày đã gạt tao Tao sẽ đập chết mày như đập con ruồi con nhặng !
           Người đàn bà nghe vậy thì giật mình hoảng hốt, vội nép vào sau lưng người đàn ông mà thị vừa nói là Hai Quyền. Mà đúng là Hai Quyền thật. Hai Quyền tiến sát lại trước Phượng Vân, nói
           Không nhận ra anh Hai hả Cũng đúng thôi Anh đâu có còn là thằng võ biền nhà quê ngu dốt, ngớ ngẩn như xưa Anh đã vô mỹ viện sửa mắt, sửa mũi, sửa cả mồm, lột da mặt và bây giờ thì bảnh trai, đường bệ như một ông chủ kinh doanh cỡ bự ...- Hai Quyền uống cạn lon bia Heineken rồi   tiếp -
Và anh đã là một ông Giám đốc công ty dịch vụ tổng hợp nổi tiếng "Di-vu-tô-hô",  em hiểu không Anh đã đi Hồng Kông Xinh-ga-po, Thái Lan... Bây giờ phải làm giàu em ơi Không thể sống nghèo khổ lạc hậu mãi, phải  làm giàu !...
         Hai Quyền nói hàng tràng, sùi bọt mép, văng cả vào mặt Phượng Vân. Phượng Vân cảm thấy tai như ù, mắt  như hoa. Cô bỗng hét lên
              Không phải Mày không phải là Hai Quyền Hãy cởi trói cho tao Quân khốn nạn
              Mày có chịu nghe tao làm giàu không Chịu thì tao cởi trói và cho làm chủ một nhà hàng máy lạnh Không chịu thì tao bán cho thằng Ba Tàu Hồng Kông !...Mà mày phải nghe tao, nghe anh mày Tao là Hai Quyền đây !...
              Hai Quyền cũng gào lên rồi cởi phăng áo, xuống tấn, lên gồng bắp thịt nổi cuồn cuộn, đoạn vung tay đá chân múa bài  quyền gia truyền "Phượng hoàng" mồm thì hô to những câu thiệu :
              Phượng hoàng tranh cước vĩ
              Mãnh hổ khai đại phi
              Song long truyền bảo đỉnh
               Đoạt chấn vũ uy trì ...
     Phượng Vân há mồm, tròn mắt kinh ngạc Đúng là anh Hai Quyền kia rồi Chẳng lẽ anh Hai Quyền của cô đã thay đổi đến như vậy Không thể như thế được Nghĩ thì chậm nhưng làm thì nhanh, Phượng Vân thấy máu nóng bốc lên mặt như hỏa diệm sơn, cô thét lên một tiếng cực lớn rồi vận hết công lực, bật tung dây trói, bay vút  lên như con phượng hoàng cất cánh rồi nhào vào Hai  Quyền Hai Quyền thấy vậy thì thất kinh !  Mặc dù võ nghệ của Hai Quyền xưa nay hơn hẳn cô em gái, nhưng giờ đây, anh ta không thể chống đỡ lại trước những cú ra đòn như sấm sét của Phượng Vân đang bừng bừng  nổi giận Song Hai Quyền còn kịp tỉnh táo kêu thằng đệ tử bỏ chạy tháo thân .
         Phượng Vân thấy Hai Quyền bỏ chạy thì nổi giận đùng đùng, quay lại tóm cổ mụ chị dâu quật cái "đét" vào  tường. Đoạn cô đập phá tơi bời căn phòng rồi lao ra ngoài ...
        ***
        Ông Mười Lành lặng người đi vì đau xót khi nhìn Phượng Vân mặt mũi phờ phạc, người đầy bụi đường đang vừa khóc vừa kể lại tội Hai Quyền Ông muốn thét lên thật to và bay đi tìm Hai Quyền để trị tội nhưng ngực  ông đau nhói, chân tay run lên. Ông ôm con gái vào lòng, xoa đầu nó, muốn nói một câu gì đó mà cổ như tắc nghẹn, đắng chát. Rồi ông khóc nấc, nước mắt ông tràn ra như suối, ướt sũng mái đầu đầy bụi đường của  Phượng Vân. Đó là lần đầu tiên trong đời ông Mười Lành khóc...
             Khi hai cha con ông Mười Lành tìm được đến căn nhà có biển hiệu "Massage Mỹ Tiên"  thì chủ nhà đã mất tăm. Ông  Mười  giận sôi người. Ông thét lên một tiếng kinh hoàng, tung chân đá cái cổng có cái biển hiệu đèn màu  "Massage  Mỹ Tiên".  Cả mảng tường xi măng đổ rầm, cái bảng hiệu đèn màu  bị gạch vụn đè lên bể nát, vậy mà dòng chữ "Massage  Mỹ Tiên"  vẫn nhấp nháy, nhấp nháy trong đống gạch vụn !...
    Hai cha con ông  Mười Lành quyết đi tìm bằng được  Hai Quyền để trị tội rồi lôi cổ nó về quê. Ông nghe người ta nói nó đã ra đường Đồng Khởi làm ăn. Hỏi dò  đến đường Đồng Khởi, ông chỉ thấy những khu nhà cao tầng suốt ngày suốt đem nhấp nhoáng ánh điện và đông ngẹt người. Ông hỏi thăm hoài nhưng không ai biết thằng Hai Quyền nhà ông là ai cả. Ông nghĩ cho dù nó có  thay hình đổi dạng, có lột da mặt, da đầu đi chăng nữa thì ông vẫn nhận ra nó. Nhưng  đã một tháng trôi qua, ông Mười Lành vẫn  không tìm thấy Hai Quyền. Một lần, Phượng Vân thoáng nhìn thấy Hai Quyền và thằng lùn mập ú trong một đám người sang trọng. Cô kéo ông Mười chạy tới nhưng họ đã lên ngồi trên những cái ô tô bóng nhoáng, chớp mắt đã lao vút đi mất hút! Hai cha con tức giận la hét ầm giữa đường, người ta cho là điên, xúm lại bắt giữ, vì đây là chỗ thường tiếp khách nước ngoài sang liên doanh liên kết, sẽ thu về đô-la làm giàu đất nước, không thể lộn xộn như thế được. Càng tức giận, hai cha con ông Mười đã dùng bài võ gia truyền cự  lại. Nhưng "mãnh hổ nan địch quần hồ", cả hai cha con cuối cùng đều bị bắt, bị trói nghiến và được đưa vào nhà thương điên !...
* *
Ba tháng sau, công an thành phố đã điều tra ra rằng, cái ông Mã Nhân Kiệt, đại diện của mấy công ty lớn Hồng Kông, Xinhgapo đã ký kết hợp đồng với không ít cơ quan dich vụ du lịch của miên Nam, là "bồ" của Hai Quyền, chính là thằng Mã Lừa vốn là chân chạy bàn  cho một tiệm mì vằn thắn, sủi cảo Chợ Lớn! Khi biết tin đó, đúng vào lúc có hẹn làm ăn lớn với Mã tiên sinh, Hai Quyền xây xẩm mặt mày, máu mồm máu mũi túa ra, té xỉu đập đầu xuống sàn nhà chết ngay tức khắc !

     Còn hai cha con ông Mười Lành, không hề hay biết cái tin đó, vì chẳng  ai thông báo với ông cả. Sau khi trốn nhà thương điên, hai cha con ông vẫn đêm ngày đi tìm Hai Quyền để trị tội !...

 Viết tại 43-Đồng Khởi, Q.1, TP.HCM
1989-     Đỗ Ngọc Thạch
http://www.rfi.fr/actuvi/images/119/VNWUSHU432.jpg