Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

Đỗ Ngọc Thạch trên nguoibanduong.net

http://images.yume.vn/blog/201108/20/1313831469-DNThachrt.jpg
tìm Đỗ Ngọc Thạch trên nguoibanduong.net (trích: Cô giáo trường Làng)


Tin tức > Đỗ Ngọc Thach - trong nước
1. Ngày…tháng…năm…19…

Câu nói cuối cùng của thầy Hiệu trưởng nói với mình khi đến trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương nhận công tác là: “Học sinh ở đây khác với học sinh các nơi khác ở hai điểm: 1/ Phải năn nỉ, lôi kéo chúng đến học; và do đó dẫn đến điểm thứ 2/ Không thể dùng hình phạt đuổi học dưới bất kỳ hình thức nào!”. Trải qua cuộc đời đi học từ Trung học Phổ thông cho đến hết Đại học Sư phạm, mình đã chứng kiến không biết bao nhiêu những phụ huynh học sinh phải chạy chọt đủ kiểu để con em được đi học cho nên mình thật sự ngạc nhiên khi nghe thầy Hiệu trưởng nói như thế. br /> Xem chi tiết
1.
Thầy Mân dạy tôi hồi lớp Mười, còn Thầy Hân dạy tôi hồi Đại học. Thầy Mân chào thầy Hân là Thầy, vì khi học Đại học Ngoại ngữ, thầy Mân cũng học thầy Hân. Như thế, thầy Hân vừa là Thầy của Thầy tôi, tức Sư phụ của Sư phụ, và với tôi thì là Sư phụ, tức tôi gọi thầy Hân là Sư phụ hoặc Sư phụ của Sư phụ đều đúng!... Là học trò mà viết về Thầy giáo của mình, theo lệ thường, là chỉ được viết ngợi ca, còn lại thì đều là bất kính, vô Lễ. Tuy nhiên, vì tôi cũng có hai năm làm Thầy giáo, mà học trò tôi ngày ấy, giờ cũng đã có học vị Tiến sĩ, gặp tôi vẫn lễ phép “Chào Thầy”, vì thế, nếu xét về quan hệ xã hội, thì tôi cũng là Đồng nghiệp với Sư phụ của tôi! Sở dĩ tôi phải “Vòng vo Tam Quốc” chút xíu vì những gì tôi viết về hai Sư phụ của tôi không thể xếp vào thể loại Tụng ca được dù tôi rất muốn như thế!

Xem chi tiết
1. Chuyện của cô Đào

Ông Lê Văn Binh là thương binh chống Pháp. Trong trận đánh đồi A1 ác liệt, anh chiến sĩ Lê Văn Binh chưa tới hai mươi tuổi, bị một viên đạn của quân địch đục một lỗ ở trán rồi chui vào đầu từ lúc nào không hay biết, khiến anh bất tỉnh. Những chiến sĩ cứu thương đưa anh về tuyến sau, nghĩ là anh đã chết, liền đưa anh tới một nhà dân nhờ mai táng. Nhưng đúng lúc gia chủ đào huyệt cho anh thì anh tỉnh lại…
Xem chi tiết
Mỗi khi mùa hạ tới, tôi lại nhớ đến nhà thơ Henric Hainơ với bài thơ Trong tháng năm kỳ diệu: Trong tháng năm kỳ diệu / Khi mầm cây nẩy ra /Trong tim tôi cảm thấy / Tình yêu bỗng nở hoa. / Trong tháng năm kỳ diệu / Run rẩy tiếng chim ca / Với bạn tình tôi gửi / Những nỗi niềm thiết tha.Không phải ngẫu nhiên mà với nhà thơ Henric Hainơ mùa hạ lại kỳ diệu như vậy và cũng như vậy, tôi thấy mùa hạ thật kỳ diệu bởi mùa hạ đó, tôi đã gặp em…
Xem chi tiết
Tôi bắt đầu viết báo từ thời còn là sinh viên nhưng chỉ là nổi hứng thì viết và chỉ mới biết báo chí ở sản phẩm “giấy trắng mực đen” chứ chưa biết gì về nghề báo, tức để có tờ báo “giấy trắng mực đen” đó, người ta đã phải làm những gì, tức qui trình làm báo từ A tới Z. Từ khi về “làm việc” ở Viện Văn học, tôi đọc báo nhiều hơn và cũng tích cực viết báo hơn bởi đã có ý thức hơn về nhuận bút, một khoản thu nhập không nhỏ đối với đồng lương “khổ hạnh” của đời “ăn lương” Nhà nước, mặc dù nhuận bút cũng “mỏng manh” như tờ giấy báo mà thôi
Xem chi tiết
Xuân Đào cắt thịt

Chuyện xưa có nàng Xuân Đào hiếu thảo, nhà nghèo, mẹ già lại ốm đau mà không có tiền mua thịt cho mẹ ăn, liền cắt thịt trên cánh tay nấu cháo cho mẹ ăn.

Xem chi tiết
1. Pha trộn thể loại

Có một nhà văn chuyên viết văn xuôi và một nhà thơ chuyên viết thơ tự do, cùng nhau đi thực tế cơ sở ở một làng quê vùng sâu vùng xa. Cảnh vật ở đây sơn thủy hữu tình rất ngoạn mục, tràn đầy cảm hứng sáng tạo. Nhưng con người ở đây thì thưa vắng như lá mùa thu, hai nhà văn-thơ kia tìm mỏi mắt cũng chỉ thấy có một cô thôn nữ tạm “sạch nước cản” có thể làm “chất xúc tác” cho cảm hứng sáng tạo, tức làm người tình trong quá trình “thai nghén” tác phẩm, tức cả nhà văn và nhà thơ cùng sở hữu chung một người tình.
Xem chi tiết
BA LẦN THOÁT HIỂM
Năm 1961, tôi học lớp Năm ở trường Phổ thông cấp 2-3 Lương Ngọc Quyến, thị xã Thái Nguyên, nay là Thành phố Thái Nguyên. Tính đến nay (năm 2011) là đã chẵn 50 năm. Số bạn học cùng tôi ở lớp Năm hồi đó, suốt 50 năm qua tôi chưa hề gặp lại người nào. Những tưởng đó chỉ còn là ký ức xa mờ thì thật diệu kỳ, trong dịp lễ kỷ niệm 30-4 và 1-5 vừa rồi, tôi đã bất ngờ gặp lại không chỉ một mà tới ba người bạn học cùng lớp Năm từ hồi năm 1961 đó. Có cuộc hội ngộ không tiền khoáng hậu này bởi mấy người bạn học của tôi đã đứng ra tổ chức một buổi họp lớp “Bạn học thời cởi truồng”. Xem chi tiết
Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2010 đã trao giải “Thành tựu trọn đời về Thơ” cho Tuyển thơ Gió và Tình yêu thổi trên đất nước tôi (NXB Hội Nhà văn và Nhã Nam hợp tác xuất bản, H.2010) của cố thi sĩ Lưu Quang Vũ (1948-1988). Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (2010) với hơn 100 thi phẩm có thể xem như tuyển tập thơ Lưu Quang Vũ đầy đủ, công phu và kỹ lưỡng nhất cho đến thời điểm này. Tuyển tập thơ sẽ đem lại cho độc giả hình dung khá toàn diện về hành trình thơ Lưu Quang Vũ, nơi mỗi chặng đường đều in dấu những suy nghĩ, xúc cảm sâu đậm của tác giả và ghi dấu nhiều biến động của lịch sử, xã hội trong những thập niên cuối của thế kỷ 20.
Xem chi tiết
Vài nét về tác giả: Nhà văn Đỗ Ngọc Thạch sinh ngày: 19 -5 - 1948. Quê: Phú Thọ. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội 1976 . Đã kinh qua: Bộ đội Rađa, Giáo viên, Cán bộ nghiên cứu Viện Văn học, Biên tập viên Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, Báo Lao động Xã hội, Phụ trách Ban Biên tập Tạp chí Văn Nghệ GiaLai - Kon Tum, v.v... Viết nhiều thể loại: Phê bình Tiểu luận, Truyện ngắn, Thơ. Sách đã in: Quà tặng tuổi Hai mươi (Tập truyện ngắn - NXB Công an Nhân dân: Bản in năm 1994 gồm 8 truyện; Bản in năm 2005 gồm 26 truyện). Hiện sống tại TP.HCM. NBĐ đã đăng một số truyên của tác giả như: Bạn học lớp hai, Lấy vợ xấu. Xin giới thiệu với bạn đọc thêm một truyện khác của nhà văn: Giá một cái hôn. Xem chi tiết


(Tuổi thơ đi rồi mãi mãi lìa xa
Chẳng còn bao giờ mong trở lại
Tim vẫn hát điệu vần khôn cưỡng lại
Tình yêu như sao trời mọc trên đầu ta!...
Đ.V.C.T.) Đọc tiếp...




1. Ngày… tháng… năm 19… Mình tốt nghiệp thì nhận được tin cô em út cũng trúng tuyển vào đại học sư phạm. Mình phải về nhà ăn mừng ngay. Thế là nhà có hai chị em cùng nghề Sư phạm, thật là vui. Nhưng buồn nhiều hơn vui vì người anh trai của hai cô em gái yếu ớt từ ngày vào chiến trường đến nay đã năm năm rồi mà không có thư từ gì, mấy người cùng nhập ngũ một đợt với anh đã hy sinh mất sáu người, giấy báo tử gửi về làng, cả làng khóc. Đọc tiếp...
1. Ngày…tháng…năm…19…

Câu nói cuối cùng của thầy Hiệu trưởng nói với mình khi đến trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương nhận công tác là: “Học sinh ở đây khác với học sinh các nơi khác ở hai điểm: 1/ Phải năn nỉ, lôi kéo chúng đến học; và do đó dẫn đến điểm thứ 2/ Không thể dùng hình phạt đuổi học dưới bất kỳ hình thức nào!”. Trải qua cuộc đời đi học từ Trung học Phổ thông cho đến hết Đại học Sư phạm, mình đã chứng kiến không biết bao nhiêu những phụ huynh học sinh phải chạy chọt đủ kiểu để con em được đi học cho nên mình thật sự ngạc nhiên khi nghe thầy Hiệu trưởng nói như thế. br /> Đọc tiếp...

BA LẦN THOÁT HIỂM
Năm 1961, tôi học lớp Năm ở trường Phổ thông cấp 2-3 Lương Ngọc Quyến, thị xã Thái Nguyên, nay là Thành phố Thái Nguyên. Tính đến nay (năm 2011) là đã chẵn 50 năm. Số bạn học cùng tôi ở lớp Năm hồi đó, suốt 50 năm qua tôi chưa hề gặp lại người nào. Những tưởng đó chỉ còn là ký ức xa mờ thì thật diệu kỳ, trong dịp lễ kỷ niệm 30-4 và 1-5 vừa rồi, tôi đã bất ngờ gặp lại không chỉ một mà tới ba người bạn học cùng lớp Năm từ hồi năm 1961 đó. Có cuộc hội ngộ không tiền khoáng hậu này bởi mấy người bạn học của tôi đã đứng ra tổ chức một buổi họp lớp “Bạn học thời cởi truồng”. Đọc tiếp...

Tin tức > Trang Văn trong nước > Xem nội dung bản tin
Nhật ký của một cô giáo trường làng - Đỗ Ngọc Thạch
[03.09.2011 23:42]
1. Ngày… tháng… năm 19… Mình tốt nghiệp thì nhận được tin cô em út cũng trúng tuyển vào đại học sư phạm. Mình phải về nhà ăn mừng ngay. Thế là nhà có hai chị em cùng nghề Sư phạm, thật là vui. Nhưng buồn nhiều hơn vui vì người anh trai của hai cô em gái yếu ớt từ ngày vào chiến trường đến nay đã năm năm rồi mà không có thư từ gì, mấy người cùng nhập ngũ một đợt với anh đã hy sinh mất sáu người, giấy báo tử gửi về làng, cả làng khóc.
Riêng mẹ mình lại khóc rất nhiều. Mẹ bảo: “Cái thằng Nâu hiền như đất, làm việc khỏe như trâu ấy là người tốt nhất, ngoan nhất trong đám thanh niên làng này thế mà lại chết đầu tiên. Cả năm thằng kia nữa, thằng nào cũng là lực điền, là lao động chính của gia đình, thế mới khổ chứ! Ông Trời thật không công bằng! Người tốt sao mà chết nhiều thế, còn người xấu thì cứ sống nhan nhản, suốt ngày nghênh ngang ngoài đường. Như mấy đứa con ông chủ tịch xã, công an xã đó, không chịu lao động, suốt ngày chỉ rượu chè, cờ bạc rồi gây gổ đánh nhau ầm ĩ xóm làng. Thấy chúng nó con phải tránh xa nghe không! Cái thằng Chánh con ông chủ tịch xã, còn đòi xin cưới con đó! Mẹ nó đã hai lần đến nhà mình xin cưới con và chưa chịu yên đâu!” Mình nói với mẹ: “Mặc xác nó, từ giờ còn đến thì đóng cửa không tiếp, chẳng lẽ mẹ con nó không biết xấu hổ!” Mẹ thở dài, nói nhỏ: “Nếu mẹ con nó biết xấu hổ thì đã không dám mò đến…Mẹ chỉ sợ…”
Điều mẹ sợ đã thành sự thật, may mà cô em gái của mình rất thông minh, nhanh nhẹn, không thì đã bị chúng nó đón đường ở chỗ vắng làm nhục rồi! Cô em út vốn hiền lành thế mà đã thay đổi hẳn, nó nói: “Bây giờ loạn lắm chị ạ! Quân tử phòng thân, chị phải học lấy vài miếng võ tự vệ, kẻo gặp chuyện lại lúng túng! Em mới học được bài Hầu quyền lợi hại lắm, không thì đã tiêu đời rồi!”.
2. Ngày… tháng… năm 19… Mình được điều về trường cấp 3 trên thị xã, nhưng phải xin về xã dạy  cấp Một để còn chăm sóc mẹ. Từ ngày bố mình mất, rồi anh trai đi chiến trường bặt tin, sức khỏe mẹ giảm sút rất nhanh! Nay cô em út đi học xa, nhà chỉ có hai mẹ con, thật là buồn. Chỉ ở vào hoàn cảnh này, mình mới thấy cái ước mơ “con đàn cháu đống” từ bao đời của người Việt thật có lý! Có lẽ mẹ nói đúng, phải lấy chồng, đẻ con cho mẹ có cháu bế, vui cửa vui nhà sẽ bớt sầu não và biết đâu sức khỏe mẹ lại hồi phục!
Nhưng chuyện lấy chồng không hề đơn giản. Khi còn học ở trường Sư phạm, mình không bao giờ nghĩ tới hai chữ lấy chồng, yêu đương cũng không hề dây vào vì mất thì giờ và lắm chuyện lôi thôi! Khẩu hiệu lúc ở trường là: Tất cả cho học tập! Có thế mình mới giành được cái danh hiệu Trạng nguyên chứ! Một kỷ niệm vui!
3. Ngày…tháng…năm 19…: Mình cứ nghĩ dạy cấp Một sẽ dễ dàng hơn rất nhiều dạy cấp Ba, nhưng có lẽ không phải như vậy, mà là ngược lại. Dạy cấp Một như làm nền móng cho ngôi nhà, nền móng có vững chắc thì sau này mới có thể lên các tầng cấp Hai, cấp Ba, rồi Đại học! Thế mà trước đây, việc đào tạo giáo viên cấp Một, cấp Hai lại tuyển toàn những người thi trượt tốt nghiệp Trung học, trượt Đại học! Giáo viên của Trường Làng này quả là giống như cái hình ảnh mà lâu nay người ta vẫn thấy: Là những người Nông dân chính hiệu nhưng không cầm cày, cầm cuốc mà cầm bút, cầm phấn trắng mà thôi! Mà thực ra, trên danh nghĩa thì họ cầm bút nhưng họ vẫn cầm cày, cầm cuốc giỏi hơn cầm bút! Thời gian mà họ đầu tư vào không phải là đọc sách, nâng cao trình độ, nghiệp vụ dạy học mà trồng rau màu, nuôi lợn, nuôi gà…sắp tới còn hùn vốn nuôi một đàn bò nữa! Việc lên lớp, hình như đối với nhiều người không phải là việc chính, mà chỉ là làm qua loa, nhanh chóng cho xong, bởi đàn lợn, đàn gà và cả đàn con đang đợi họ về giải quyết, mới là việc chính!... Thấy mình không triển khai “việc nhà nông” mà chỉ ngồi đọc sách, soạn giáo án, mấy chị hiệu trưởng, hiệu phó đều nói: “Em mà không lo gầy dựng cái “trang trại” nhỏ cho mình thì có ngày chết đói đấy! Học sinh ở đây nó hiểu rất giỏi cái câu “Có thực mới vực được đạo”, chúng nó cũng phải lo kiếm cái ăn phụ giúp gia đình rồi mới tính đến chuyện học tập! Chúng ta là cô giáo của chúng nó, chẳng lẽ lại không hiểu sâu sắc hơn chúng nó điều đó! Vì thế, học sinh nó không thuộc bài, chưa làm bài tập, hay phải nghỉ học một vài buổi thì đừng có trách phạt nó. Bởi chúng nó phải đi mò cua, bắt ốc, tát cá, mót khoai, mót lúa!...Mà tôi nhớ không nhầm thì chỉ hơn mười năm trước, cô cũng có mặt trong những đội quân kiếm sống tí hon đó?!”.
Cô Hiệu trưởng nói rất đúng, nhưng chẳng lẽ ta cứ sống như mười, hai mươi năm trước? Mình đem những suy nghĩ nói với mẹ, mẹ cười bảo: “Con sống xa quê có bốn năm mà đã thay đổi nhiều, vừa tốt, vừa không tốt. Tốt là đúng như quy luật của sự phát triển. Không tốt là con quên mất rằng sự thay đổi, phát triển ở nông thôn không giống như ở đô thị: đô thị phát triển theo đường thẳng, còn nông thôn phát triển theo hình xoáy trôn ốc!... Còn nữa, có nhiều cái rất tiến bộ, rất khoa học nhưng đưa vào Nông thôn của chúng ta nó không “tiêu hóa” được!...”

Mẹ nhìn mình âu yếm, mình cảm nhận được tình cảm mẹ giành cho mình thật vô hạn!...Mẹ bỗng thở dài rồi nhẹ nhàng nói: “Con rất giống bố con lúc trẻ: suy nghĩ nhiều quá, vấn đề gì cũng muốn nghĩ tới cùng, mà không biết rằng, có rất nhiều chuyện càng nghĩ nhiều càng rối! Con nên nhớ rằng chính vì bố con mắc chứng bệnh “cả nghĩ” mà thành ra Tâm thần, rồi phải bỏ viện nghiên cứu mà về quê! Nhờ gặp mẹ, một cô giáo trường làng giản dị mà sống thêm được chục năm nữa! Nhưng cái bệnh của bố con lại “lây” sang mẹ và “di truyền” lại cho con!... Chỉ đến khi bố con mất đi, mẹ phải lo nuôi ba anh chị em con ăn học thì mẹ mất hẳn cái bệnh “nghĩ ngợi lung tung” ấy! Con người ta phải hành động nhiều hơn suy nghĩ! Đó là điều suy nghĩ cuối cùng của mẹ cho nên sẽ rất đúng! Bây giờ con phải lo lấy chồng đi! Lấy chồng, đẻ con rồi thì con sẽ thấy con người ta phải hành động như đèn kéo quân!”.
Mẹ lại nhắc đến chuyện lấy chồng, nhưng mình thấy quả là không hề đơn giản, bao giờ cũng là như vậy! Hay là làm theo lời mẹ, phải hành động nhiều hơn suy nghĩ! Vậy thì mình sẽ đi ra ngoài đường, người nào mình nhìn thấy đầu tiên, mà nói rằng thích cưới mình làm vợ thì sẽ đồng ý liền! Mình liền bước ra cổng, nhìn cả hai phía, con đường làng rợp bóng mát của đủ các loại cây, hoa được người ta trồng làm thành hàng rào, thật là yên tĩnh! Đúng là phong cảnh làng quê thanh bình! Mình bỗng nghe thấy tiếng gõ máy chữ lách tách đều đều từ bên nhà hàng xóm. Nhìn sang thấy anh Liêu, vừa là bạn học, vừa là bạn lính với anh trai mình, bị thương phải cưa một chân, mới về nhà được nửa năm, chính anh Liêu đang gõ máy chữ! Nhớ đến ý nghĩ khi bước ra khỏi cổng, mình thấy bối rối: chẳng lẽ là cái anh Liêu này? Nhưng anh ta đang gõ máy chữ ở trong hè nhà anh chứ có đang đi ngoài đường đâu? Đúng lúc đó thì anh Liêu ngừng gõ máy chữ, ngoái đầu nhìn sang thấy mình thì liền đứng dậy, cầm lấy cái nạng rồi đi ra cổng, tính muốn gặp mình chắc? Quả nhiên anh Liêu đi rất nhanh ra cổng nhà anh thì quay ngay sang cổng nhà mình, nói: “Chào cô giáo Hiền! Đang muốn tìm cô thì thấy ngay! Anh có cái truyện ngắn mới viết xong, “Bạn trường làng” - viết về tình bạn giữa anh và anh trai Hiền. Nhờ Hiền đọc rồi chấm điểm nhé!”. Mình nói: “Em không dám chấm điểm đâu. Nếu có thì chỉ nhận xét chút xíu thôi” và thoáng nghĩ: Chẳng lẽ đây là người mình gặp đầu tiên? Nhưng phải xem anh ta có thích cưới mình không đã? Mình liền hỏi: “Anh đang nghĩ gì đấy?” Anh Liêu nói: “À, anh đang viết truyện ngắn “Kén rể” - có một cô gái đến tuổi lấy chồng nhưng không biết lấy ai? Ai mới là người xứng đôi với cô gái ấy?”. Trời ơi, sao lại có sự trùng hợp như thế? Anh Liêu thấy điệu bộ lúng túng của mình thì liền chào và đi nhanh về nhà!
4. Ngày… tháng… năm 19… Khi người ta giành nhiều tâm huyết cho một công việc nào đó mà kết quả lại không được như mong muốn thì thật là buồn. Mình chuẩn bị bài giảng rất kỹ, nhưng khi đến lớp thì mình như hóa thành Con Dã Tràng: Lớp học lúc nào cũng vắng non nửa, số còn lại thì đứa ngủ, đứa đang ăn khoai, ăn sắn, đứa thì đang sửa, buộc lại cái giỏ cua để tan học là đi móc cua ngoài ruộng về làm bữa ăn cho cả nhà, v.v.. Chỉ có một, hai đứa là há mồm ngồi nghe cô giáo nói, mà hình như nó không hiểu cô giáo nói gì! Phải chấn chỉnh lại nền nếp học tập! Không biết mình có làm được việc này không, hay là nói qua loa vài câu rồi cho bọn trẻ về sớm như các thầy cô giáo khác? Mình vừa nghĩ đến mấy chữ “cho về sớm”  thì một bé gái đứng lên nói: “Thưa cô, cô cho em về sớm, hôm nay em phải đi mót lúa, nhà em hết gạo ăn rồi!”. Mình chưa kịp nói gì thì hai đứa nữa cùng đứng lên tranh nhau nói: “Thưa cô, em cũng phải đi mót lúa!...”. Và cuối cùng thì gần như cả lớp cùng tranh nhau nói!
Mình vừa về đến cổng nhà thì thấy hai mẹ con thằng Chánh con ông chủ tịch xã đi từ nhà mình ra, mình vội lùi lại, chạy sang nhà anh Liêu. Anh lại đang ngồi gõ máy chữ ở ngoài hè. Nhìn thấy mình, anh vội ra mở cổng và hỏi ngay: “Em đọc xong cái truyện ngắn của anh rồi à?” Mình nói: “Vâng!... Nhưng bây giờ em muốn nói với anh chuyện khác. Sao anh không sang nhà em xin cưới em đi?”. Anh Liêu trố mắt nhìn mình, hỏi lại: “Em nói gì? Xin cưới em? Tại sao em lại nghĩ thế?”. Mình nói mà như là có ai chui vào mồm mình mà nói: “Hôm kia, em có quyết định là nếu bước ra cổng mà gặp ai đầu tiên thì sẽ cưới người đó! Lúc đó em đã gặp anh! Thế em chưa nói với anh chuyện này à? Nếu chưa nói thì bây giờ em nói rồi đó, anh sang nhà em xin cưới em đi, mẹ em sẽ đồng ý liền!”. Anh Liêu như là chưa hiểu mình nói gì. Anh nhìn ra cổng, thấy hai mẹ con thằng Chánh đi qua thì như là đã hiểu phần nào! Anh ngập ngừng một lát rồi nói: “Để anh nói với mẹ anh đã!...”.
Song, thật là ngoài dự đoán, từ sau khi mẹ anh Liêu sang gặp mẹ mình (gọi là dạm hỏi) thì ngày nào cũng có người mai mối đến xin gặp mẹ mình và xin cưới mình chứ không chỉ là dạm hỏi, chạm ngõ nhiêu khê gì đó! Mình nói với anh Liêu: “Anh sang xin cưới đi rồi ta cưới liền!”. Anh Liêu băn khoăn nhìn mình, muốn nói điều gì mà như là không tiện nói ra. Mình nói: “Anh em mình biết nhau từ ngày cởi truồng thì có gì mà e ngại. Anh và em sở dĩ chưa nói chuyện cưới xin với nhau chỉ vì chưa tới số thôi. Bây giờ là tới rồi đó! Chúng ta phải cưới ngay kẻo “Đêm dài lắm mộng”!
Thế là chỉ một tuần sau, mình đã là “Gái đã có chồng”! Rõ ràng là bọn “Ong bướm rập rờn” đã biến hết, cả thằng Chánh con ông chủ tịch xã cũng lặn luôn! Khi đã là cô dâu rồi, mình thấy cuộc sống quả là có khác chút ít với khi chưa là Cô dâu! Và tới khi cái thai trong bụng mình cứ lớn lên từng ngày thì sự khác biệt là rất lớn!... Lớn nhất có lẽ là cái thai, nó đã thu hút mọi suy nghĩ, hành động của ta, nhiều lúc khiến ta quên cả lũ trẻ ở trường học. Giờ mới thấy các cô giáo “Tiền bối” nói đúng: khi có nhiều việc khác phải nghĩ đến thì việc trường lớp, tức việc dạy học thật là nhẹ nhàng, coi như không có, không cần bận tâm, như trò chơi con nít vậy!
5. Ngày… tháng… năm 19… Khi mình đẻ đứa con trai đầu lòng thì Mẹ quả là hết cả ốm đau, bệnh tật. Suốt ngày hai bà cháu chơi với nhau thật là vui. Biết thế này thì mình lấy chồng, đẻ con thật sớm!
6. Ngày…tháng…năm 19…: Năm năm qua, không hiểu sao mình bỗng không muốn ghi Nhật ký, có lẽ tại bởi khi sinh đứa con gái thứ hai thì mình quá bận rộn. Khi đứa con thứ hai được hai tuổi thì chồng mình - Anh Liêu, cùng mấy người bạn Cựu chiến binh vào thăm lại chiến trường xưa thì bị tai nạn giao thông ở Tây Nguyên, cả cái xe khách lao xuống vực, thật là kinh khủng! Vậy mà khi tin tai nạn báo về, chẳng nhà nào tin cả! Ai cũng nghĩ là người thân của họ sẽ về!...Trong Lễ truy điệu anh Liêu tử nạn, một người đồng đội cũ giờ làm ở Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh nói rằng trường hợp của anh trai mình vẫn ở diện mất tích vì chưa có thông tin gì mới!
7. Ngày… tháng...năm 19… Con trai đầu của mình, thằng Làng, đã hơn sáu tuổi, cho nó vào Lớp Một vì nó đã đọc thông viết thạo, làm toán cộng trừ nhân chia rất nhanh. Và thật kỳ lạ, từ khi cho con đi học, mình lại toàn nghĩ về chuyện dạy học, về lũ học sinh trẻ con của mình!...Có lẽ bây giờ toàn bộ sự chú ý của mình sẽ tập trung vào lớp học vì ở đó có cả thằng con trai và hai tháng sau thì có cả cô con gái em, con Nữ, vì thật bất ngờ, con em ở nhà chỉ “học mót” thằng anh và chỉ sau một tháng nó đã đuổi kịp thằng anh và xem chừng muốn giỏi hơn “ông anh” của mình. Nó gọi anh nó là “Ông Anh” nghe thật ngộ, không biết nó bắt chước ai?
8. Ngày…tháng…năm 19…: Ban Giám hiệu, rồi cả Phòng giáo dục Huyện đều đồng ý cho mình thực hiện Chương trình đặc biệt bậc Tiểu học (hệ 12 lớp), từ lớp Một cho đến lớp Sáu. Tuy nhiên, Trưởng phòng GD Huyện nói: “Làm thì cứ làm, miễn sao con em chúng ta nó học tốt, chứ báo cáo lên Sở rồi lên Bộ, đi lên, đi xuống vòng vo, đường xa diệu vợi!”. Còn Hiệu Trưởng thì nói: “Em làm gì thì cứ làm cho vui, chứ trường mình là nơi đồng quê thôn dã thì có ai ngó tới mà báo cáo báo cầy mất thời gian! Nhưng dù sao cũng phải làm thế nào để trẻ em nó thích đến trường và có điều kiện đến trường. Nếu em có sáng kiến gì thì nghĩ giùm cho chị vấn đề ấy mới là thiết thực nhất!”. Chị Hiệu Trưởng đã nói đến vấn đề muôn thuở của “đẳng cấp Trường Làng”, thì ra từ xưa đến nay ai cũng nhìn thấy đó là vấn đế nan giải của “đẳng cấp Trường Làng” nhưng giải quyết nó thì..Hãy đợi đấy! Liệu mình có nghĩ ra được cách nào hay ho không?
9. Ngày… tháng… năm 19…: Thời gian cứ lặng lẽ, vô tư trôi đi. Thằng Làng đã tám tuổi, con Nữ đã Bảy tuổi, việc học hành của chúng nó tiến triển tốt. Mẹ thì vẫn khỏe nhưng dạo này cứ ngơ ngẩn như người mất hồn, có lẽ tại mẹ nhớ con trai. Còn tin tức về anh trai mình vẫn như cũ: mất tích! Mình chỉ còn biết ngày ngày cầu Bồ Tát phù hộ cho anh nguyên vẹn trở về!
10. Ngày… tháng… năm 19… Cô em gái của mình tốt nghiệp thì được giữ lại trường, rồi học lên Cao học, rồi làm tiếp Luận văn Tiến sĩ, tính đến nay đã gần mười năm trời! Giờ thì nó lại xin về Sở Giáo dục của tỉnh theo “Tiếng gọi của Quê hương”. Nghe nó nói chuyện thì nó còn nhiều khát vọng hơn cả mình lúc mới ra trường! Tuy nhiên, gần một năm thì nó cưới chồng, chồng nó là một Nhà Doanh nghiệp ngoài Quốc doanh, chuyên kinh doanh Địa ốc, xây dựng nhà dân dụng! Nghe nó nói mà giật thót cả người: “Càng học lên cao, em càng thấy rõ rằng, cách làm tốt nhất là không làm gì cả, cứ ngồi vào đúng vị trí của mình để “Con tàu thời gian” nó đưa đi theo đúng lộ trình đã định sẵn!”. Thì ra nó đã “nhập cuộc”  trước mình, còn mình thì mang tiếng là con cái đùm đìa mà vẫn “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”! Khi nó nói chuyện về tình yêu, vợ chồng, gia đình… thì quả là “dễ sợ”! Cứ như nó nói thì mình mới chỉ “mon men ở ngoài rìa” của những mối quan hệ tưởng như là đã “từng trải” đó!
11. Ngày… tháng… năm 19… Có một đoàn hơn chục sinh viên do một thầy giáo hướng dẫn về Làng mình sưu tầm văn học dân gian. Sao mình ở đây đã ba đời mà không để ý, còn họ ở tận đâu đâu lại về đây “đào bới, lục lọi” khắp xóm dưới làng trên, và thật kỳ lạ, họ đã moi ra được đủ thứ nào là ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, rồi Thần phả, Thần tích gì nữa cứ gọi là om sòm cả làng! Không ngờ bà mẹ già ngớ ngẩn nhớ nhớ quên quên của mình lại biết và thuộc nhiều những bài ca cổ xưa, những truyền thuyết cổ xưa đủ loại của làng mình như thế? Đến nỗi ông Thầy giáo hướng dẫn đám sinh viên xin đóng “Đại bản doanh” ở nhà mình và ghi âm, chụp hình bà mẹ già của mình suốt ngày, suốt đêm!...Rồi một buổi tối kia, không hiểu bằng cách nào mà ông Thầy Sưu tầm dụ được mình hát lại những bài ca mà mẹ mình đã hát cho ông ta ghi âm. Hát đến đâu ông ta ghi âm đến đó, và luôn mồm nói: “Thật không ngờ cô giáo thời nay mà hát những bài ca cổ xưa lại giống như là người cổ xưa! Chúng ta như đang lạc vào vườn Cổ tích có rất nhiều phép nhiệm màu!”…Và không biết từ lúc nào, ông Thầy Sưu Tầm đã đưa mình trở về tận những thời kỳ xa xưa nhất của Loài người: thời kỳ Nguyên Thủy, con người còn ở trong những hang động lung linh thạch nhũ!... Ông Thầy Sưu tầm đã kéo mình vào cuộc tình “dân gian” từ lúc nào mình cũng không thể xác định được!
Đoàn sưu tầm kéo dài thời gian công tác thêm một tháng. Rồi một tháng cũng trôi qua cái vèo! Ông Thầy Sưu tầm như là không muốn chia tay, muốn cưới mình làm Thiếp như trong phim Tàu! Mình rối trí quá không biết làm sao thì cô em gái về, thấy thế thì kêu mấy đứa “Thợ xây” ở Công ty của ông chồng, nửa đêm gói ông Thầy Sưu tầm vào cái chăn chiên rồi ném xuống ao!
12. Ngày…tháng…năm 19…: Sau chuyện của ông Thầy Sưu tầm, lại đến chuyện thằng Chánh con ông Chủ tịch Xã. Có dạo nghe nói nó được chọn đi học công nhân kỹ thuật công nghệ cao ở tận quê hương của Gớt, ai ngờ vài năm nó lại lù lù trở về làng làm ở văn phòng Ủy Ban Xã. Bẵng đi vài năm không để ý, giờ nó đã giữ cái chức Chủ tịch Xã của bố nó ngày xưa! Một hôm, Chánh đến trường, gặp Hiệu trưởng rồi đòi dự khán giáo viên đứng lớp. Hiệu trưởng dẫn vào lớp mình. Suốt cả buổi, vị chủ tịch xã ngồi lim dim như ngủ! Không biết ngủ hay đang tính toán âm mưu gì?
Tan học, mình vừa đi về vừa nghĩ: Bỗng nhiên đến trường đòi dự giờ, không thể là chuyện bình thường! Mình liền gọi điện cho cô em, nói lại tình hình. Nửa giờ sau đã thấy hai “Thợ Xây” đến nói là Bà giám đốc điều tới làm vệ sĩ cho cô giáo!
Nửa đêm trôi qua, mình vừa thiếp ngủ thì thấy có tiếng lục đục ngoài cửa. Mình mở cửa nhìn ra đã thấy hai “Thợ Xây” Vệ sĩ cầm hai đầu cái bao tải to tướng đã buộc chặt miệng bao, đi ra cổng!
Một tuần sau, nghe mấy cô giáo nói ông chủ tịch xã giờ như người tâm thần, cứ đi tới đi lui ở sân Ủy Ban, không thấy nói năng gì! Ủy ban đã họp ba ngày để bầu người thay thế mà bầu mãi không được, đang chờ Huyện xuống quyết!

Ngày mai là ngày kỷ niệm 10 năm làm cô giáo trường làng, không biết nên vui hay buồn đây? Mẹ bỗng đến sát người lúc nào mà không biết, giật thót tim! Không hiểu sao, Mẹ lại nói như là mười năm trước đây: “Lo mà lấy chồng đi! Phải thường xuyên tới Tỉnh đội hỏi xem tin tức anh trai mày thế nào?”… Nghe mẹ nói mà mình bàng hoàng cả người, có hai việc ấy mà suốt mười năm qua mình chưa làm được sao?
Sài Gòn, 2010-2011
Đỗ Ngọc Thạch
(Theo Bản tác giả gửi NBĐ)
 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:


Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

Trạng Me đè trạng Ngọt - Đỗ Ngọc Thạch (bản đã chỉnh sửa)

Xem hình

Đỗ Ngọc Thạch năm 2010  (TP. HCM)



Trạng Me đè Trạng Ngọt - Đỗ Ngọc Thạch (vườn Tao Đàn)



Trạng Me đè Trạng Ngọt - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Trạng Me đè Trạng Ngọt
( Văn học Việt Nam : Truyện ngắn )

22442


Hứa Tam Giang là dòng dõi Trạng Ngọt Hứa Tam Tỉnh ở làng Vọng Nguyệt (làng Ngọt) xã Tam Giang, huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh.
Hứa Tam Tỉnh thuở nhỏ học rất giỏi nhưng gia cảnh nghèo túng, dung mạo thì xấu xí, thấp lùn lại đen đủi. Tài học của Tam Tỉnh nổi tiếng cả trấn Kinh Bắc thời ấy. Cùng thời với Tam Tỉnh, có Nguyễn Giản Thanh là người ở làng Me (tên chữ là Hương Mặc), xã Minh Đức, huyện Tiên Sơn cũng tỉnh Bắc Ninh. Tài học của Giản Thanh cũng nổi tiếng trong trấn nhưng trong bụng Giản Thanh rất kiêng nể Tam Tỉnh. Kỳ thi Hội khoa Mậu Thìn đời vua Lê Uy Mục (1508), hai người cùng đi thi. Qua các kỳ thi Hội rồi thi Đình, bài của họ Hứa đều xuất sắc hơn bài của họ Nguyễn. Các quan chấm thi đều nhất trí là lấy Hứa Tam Tỉnh đỗ đầu, tức Trạng nguyên, còn Nguyễn Giản Thanh đỗ thứ hai tức Bảng nhãn, và người đỗ thứ ba tức thám hoa là Nguyễn Hữu Nghiêm.
Ba vị đỗ cao được tiếp kiến Long nhan. Lúc đó, bà Kinh Phi (mẹ vua) cũng có mặt, nhìn thấy Giản Thanh mặt mũi sáng sủa đẹp trai hơn cả thì liền chỉ Giản Thanh mà hỏi quan chủ khảo: “Người này chắc là Trạng nguyên?” Quan chủ khảo không muốn phật ý mẹ vua nên lúng túng, đoạn chỉ cả vào Giản Thanh và Tam Tỉnh mà tâu rằng: “Hai người này tài học ngang nhau nên chúng tôi chưa biết lấy ai đỗ Trạng. Xin mẫu hậu và Hoàng thượng phán xét”. Vua cũng biết là văn tài của Tam Tỉnh hơn Giản Thanh nhưng ngó thấy bà Kinh phi đang nhìn Giản Thanh với ánh mắt long lanh đắm đuối thì vì muốn chiều lòng mẹ nên mới ra thêm bài phú Phường thành xuân sắc (cảnh mùa xuân ở kinh đô) để xét tài cao thấp.
Giản Thanh nghĩ, nếu làm bằng chữ Hán thì sẽ không thể cao xa thâm thúy bằng Tam Tỉnh, chi bằng làm bằng chữ Nôm, hình ảnh bóng bẩy, câu văn yểu điệu tất mẫu hậu sẽ hiểu được và thích thú. Tức thì Giản Thanh ứng khẩu đọc liền một mạch:
Chợ hòe đầm ấm, phố ngọc tần vần,
Trai lanh lẹ đá cầu vén áo;
Gái éo le rủ yếm dôi quần.
Khách Tràng An cưỡi ngựa xem hoa, rợp đường tử mạch;
Chàng công tử ngự xe trương tán, rạng mực thanh vân.
Bà Kinh phi nghe đọc mà miệng cười phấn chấn, má ửng đỏ như gái dậy thì, mắt lấp lánh như ánh thu ba… Đàm đạo một hồi, vua lại thấy Giản Thanh là người phủ Từ Sơn – quê ngoại của mình nên đẹp lòng lắm, truyền lấy Giản Thanh đỗ Trạng nguyên, còn Tam Tỉnh lùi xuống hàng bảng nhãn. Biết chuyện này, nho sĩ kinh Bắc phẫn nộ lắm, làm vè chê Giản Thanh là “mạo Trạng nguyên”, nghĩa là “Trạng nguyên mặt”, vì đẹp trai mà được đỗ trạng, đồng thời cũng có nghĩa là “Trạng giả mạo”, thực không xứng đáng. Còn Hứa Tam Tỉnh, tuy không được đỗ Trạng nguyên nhưng người đời vẫn thường gọi ông là Trạng Ngọt (tức ông Trạng làng Ngọt – tên chữ là Vọng Nguyệt – bên bờ sông Như Nguyệt). * *   * Hứa Tam Giang cùng tiểu đội trắc thủ ra đa với tôi gần một năm. Sau khi Trung đoàn gọi đi học về kỹ thuật rađa nhưng lại hoãn, bèn giữ tôi ở lại Trung đoàn bộ làm giáo viên văn hóa, thế là tôi xa anh bạn Hứa Tam Giang từ đó. Cuối năm 1970 tôi trở về trường tiếp tục đời sinh viên… Sau này, khi là sinh viên văn khoa, tôi được cử về làng Ngọt để sưu tầm văn học dân gian, có dò hỏi tung tích anh bạn Hứa Tam Giang nhưng bặt vô âm tín. Bù vào đó, tôi được nghe kể về ông cố nội của Hứa Tam Giang mà rất ít người biết. Sau cái buổi chấm trạng nguyên bằng mặt vừa nói trên, có một chuyện kín nơi hậu cung mà rất hiếm người biết, bởi nó thuộc loại “Thâm cung bí sử”. Chuyện như sau: Trước khi vinh quy bái tổ, ông trạng Giản Thanh tổ chức một đại tiệc khao các quan trường, bạn hữu ở kinh đô. Tiệc tàn thì bà Kinh Phi cùng hai con thị nữ tới. Thấy quan Trạng đã ngà ngà men say, bà Kinh Phi nói: “Khỏi bày tiệc làm gì. Ta đến đây vì bài phú Phường thành xuân sắc của quan Trạng đó. Tả cảnh xuân mà khơi dậy tình xuân tưởng đã tắt trong lòng ta. Thật là thần thi!” Giản Thanh nói: “Mẫu hậu quá khen! Văn của hạ thần lọt vào được tai của mẫu hậu thật là may lắm thay!” Mẫu hậu cười, nói: “Ta thích nhất câu Trai bảnh bao đá cầu vén áo. Gái éo le rủ yếm, rớt quần! Văn chương chớ bóng bẩy hào hoa mà phải tự nhiên như nhiên mới thiêu đốt được lòng người tình xuân lai láng!” Giản Thanh nói: “Kẻ hạ thần xin lĩnh ý!” Mẫu hậu vừa cười vừa nhìn quan trạng đắm đuối, nói: “Quan trạng làm thơ đá cầu, tất biết đá cầu chớ? Ta muốn xem quan trạng đá cầu!” Giản Thanh hứng chí, đá cầu như rồng bay phượng múa! Mẫu hậu mười phần thích thú, nói: “Trai bảnh bao đá cầu vén áo, quan trạng phải cởi bỏ áo quần lụng thụng đi đá cầu mới ngoạn mục!” Giản Thanh vừa cởi bỏ áo quần, tức thì mẫu hậu nhào tới ôm chầm lấy, miệng nói: “Ôi! người đẹp của ta! Tình xuân của ta!” Hai đứa thị nữ thấy vậy hốt hoảng kêu lên: “ Trạng Me đè mẫu hậu” rồi ù té chạy ra ngoài . Sau này, cái câu “Trạng Me đè mẫu hậu” lọt ra ngoài, mẫu hậu nổi giận sai cắt lưỡi hai con thị nữ và truyền cho quan trạng Giản Thanh phải sửa lại câu nói đó. Không hiểu quan trạng Giản Thanh bày mưu tính kế ra sao, nhưng sau đó thấy lưu truyền câu chuyện như sau: Trước kia, có thầy địa lý nổi tiếng tên gọi Tả Ao đã từng xem đất nhà Hứa Tam Tỉnh ở làng Ngọt và nói đây là đất phát Trạng nguyên. Đến khi qua làng Me của Nguyễn Giản Thanh thấy ngôi mộ tổ nhà Giản Thanh thì lại nói: “Đất ngôi này cũng phát trạng”. Mọi người lấy làm lạ, hỏi: “Lẽ nào một khoa lại có hai trạng?” Tả Ao tiên sinh nói: “Trạng Me đè trạng Ngọt”, rồi rũ áo bỏ đi. Không ai tin, nhưng đến khi Giản Thanh vinh quy bái tổ, người ta mới chịu tài Tả Ao và mặc dù Hứa Tam Tỉnh không được đỗ Trạng dân làng vẫn gọi ông là Trạng Ngọt. Sự tích Trạng Me đè Trạng Ngọt được lưu truyền rộng rãi cho đến tận bây giờ. Còn câu nói Trạng Me đè mẫu hậu thì hầu như không ai biết! Xin được miễn bình luận về câu chuyện trên, tôi xin kể tiếp về ông cố nội của Hứa Tam Giang kẻo cái truyện ngắn này sẽ vượt quá khuôn khổ quy định, vì còn phải dành phần kể về cuộc đời đầy phong ba, đầy éo le, nghiệt ngã của Hứa Tam Giang nữa. Đến đời ông Hứa Tam Phong thì những đặc điểm của ông Trạng Ngọt đã phát triển đến tột đỉnh: gia cảnh cực kỳ bần hàn, diện mạo, hình dung cực kỳ quái dị (nếu theo như sách tướng thì đó là một trong bốn quý tướng: Thanh – Kỳ – Cổ – Quái) và thiên tư thì cực kỳ thông minh, mẫn tiệp. Diện mạo ông Hứa Tam Phong xấu xí đến mức mỗi khi đi ra đường ông phải đội khăn che mặt, chỉ để hở hai con mắt sáng như sao, cuối vầng mắt thật sắc như dao cắt (sách tướng nói người có mắt như thế dễ nổi tiếng về đường văn chương!). Năm 12 tuổi, Hứa Tam Phong đã theo học hết các ông thầy danh tiếng của nho sĩ Bắc Hà thời đó. Các ông thầy dạy Hứa Tam Phong đều bái phục cậu bé sát đất và đều thú nhận không còn chữ để dạy cậu bé có thiên tư tuyệt vời này nữa. Khoa thi năm đó, nghe nói nhà vua treo bảng cầu hiền, việc chấm thi sẽ rất gắt gao, cậu bé Hứa Tam Phong đội khăn che mặt lều chõng đi thi, quyết đem lại tiếng thơm cho dòng họ. Nhưng, đêm hôm trước ngày thi, Hứa Tam Phong đang ngủ trong nhà trọ thì có một vị công tử lẻn vào, dựng Tam Phong dậy và nói: “Ta chính là con của quan Trạng Giản Thanh, mẫu thân ta chính là bà Kinh Phi! Ta thi đã nhiều khoa mà chưa đậu, nhưng cái số của ta sẽ đỗ đầu khoa thi này. Trời đã xui ta gặp nhà ngươi. Ngươi không thể tránh được mệnh trời. Vậy ngày mai, ngươi cứ viết bài nhưng phải ghi tên ta. Còn nhà ngươi, cầm lấy túi tiền này và phải đi thật xa, nếu không ta sẽ cho đi chầu ông bà ông vải!” Nói xong, vị công tử nọ ấn túi tiền vào tay Hứa Tam Phong, tay kia rút ra thanh kiếm sáng loáng kề vào cổ cậu bé! Sáng hôm sau, người ta thấy cậu bé đội khăn vào dự thi nhưng khi nộp quyển xong thì không ai biết cậu bé ấy đi đâu. Dân làng Vọng Nguyệt phái người đi bốn phương tìm kiếm nhưng vô hiệu. Thời gian trôi đi, hình ảnh cậu bé Hứa Tam Phong chỉ còn là ký ức của mọi người. Có một người biết Hứa Tam Phong đi đâu, chính là vị công tử nọ, sau đó là quan trạng. Quan trạng cử hai vệ sĩ thân tín bám gót Hứa Tam Phong, dặn là đến nơi hoang vắng thì sẽ hạ thủ cậu bé, lột lấy da mặt đem về làm bằng. Nhưng sau ba ngày đóng giả làm khách lữ hành bám theo Hứa Tam Phong, hai vệ sĩ này động lòng trắc ẩn, không những không nỡ giết cậu bé mà còn hộ tống cậu vào tận vùng đất mới Đồng Tháp Mười sinh sống. Hai người vệ sĩ ấy tên họ là gì, họ đã sống với nhau ở miền Nam xa xôi ra sao, họ có lập được những kỳ tích nào không, đó còn là cả một bí ẩn! Chỉ biết là năm mươi năm sau, trên sông Như Nguyệt đoạn làng Vọng Nguyệt, người ta thấy một ông lão đánh cá sống đơn độc trên một chiếc thuyền nhỏ, thân mình đầy những vết thương chằng chịt, mặt được che bằng chiếc khăn Hồng Lĩnh. Từ khi có ông lão, khúc sông Như Nguyệt này tiệt hẳn nạn trộm cướp, nạn chết đuối vì sông nước cũng không còn, Hà Bá cũng phải kiêng nể ông lão đánh cá cô độc này. Một vài ông già trong làng Vọng Nguyệt chợt nhớ lại hình ảnh cậu bé Hứa Tam Phong năm mươi năm về trước, cố tìm cách để hỏi chuyện ông lão, nhưng ông lão nói là không hề biết Hứa Tam Phong là ai, ông lật khăn cho các cụ già làng xem khuôn mặt đầy những vết chém của gươm đao, không ai đã có thể khẳng định đó là khuôn mặt của cậu bé Hứa Tam Phong ngày trước. Nhưng đêm đêm, vào những lúc trăng thanh gió mát, người nào thính tai đều nghe thấy từ khúc sông vẳng lên tiếng đọc thơ trầm hùng. Vì đã có truyền thuyết võ tướng Trương Hống đọc thơ Lý Thường Kiệt ở khúc sông Như Nguyệt này mà đánh tan quân Tống cho nên người ta nghĩ là hồn ông Trương Hống còn linh thiêng, vẫn còn đọc thơ để kêu gọi nhân chúng đứng dậy đánh giặc cứu nước. Nhưng, có một người biết đích xác không phải Trương Hống đọc thơ mà chính là ông lão đánh cá đọc thơ. Người đó là cô Hạnh, con một ông đồ nghèo ở trong làng, là người đẹp không chỉ nhất làng mà cả trấn Kinh Bắc không ai có thể sánh nổi! Năm ấy, cô Hạnh vừa đúng độ tuổi trăng tròn lẻ, không chỉ nhan sắc tuyệt trần mà cầm kỳ thi họa đều tinh thông không ai bằng. Tiếng đồn cô Hạnh đến tai quan huyện. Lập tức, quan huyện cho người tới dạm hỏi làm vợ bé! Ông đồ nghèo kinh hoàng, chỉ biết đấm ngực kêu trời! Cô Hạnh bủn rủn chân tay, khóc hết nước mắt! Đêm ấy, cô Hạnh đi ra bờ sông, đứng trước một cái hút. Chỗ này, nghe nói sâu ngàn trượng, biết bao sinh linh oan khuất, khổ đau đã trầm mình nơi đây? Đúng lúc cô Hạnh nhìn đăm đăm vào mặt nước loang loáng ánh trăng thì vang lên giọng thơ trầm bổng, não nùng, như là từ cõi xa xăm vọng về: Dòng sông chở sầu hoài đâu hết Khói sóng trên sông đẫm lệ người Anh hùng đâu tá, dòng nước siết? Liệt nữ tìm chi dòng nước trôi Cô Hạnh giật mình, nhìn quanh quất chỉ thấy mặt sông mờ mịt khói sóng, tịnh không có một bóng người, vậy mà tiếng thơ vẫn ngân vang vô tận! Tiếng thơ như thấm vào từng mao mạch của cô Hạnh, khiến cô rùng mình, thảng thốt. Cô nhắm mắt lại rồi lao đầu xuống hút nước!   Từ lúc cô gái xuất hiện bên hút nước, ông lão đánh cá đã nhìn thấy cả. Đúng lúc cô gái lao xuống thì từ trên con thuyền nhỏ đậu khuất trong một lùm cây ven sông, ông lão cũng bật người lao xuống nước như một con chim bói cá. Ông lão đã vật lộn với dòng nước xoáy và đưa được cô gái lên thuyền. Khi đã tỉnh lại, nhìn thấy ông lão đánh cá che mặt, cô Hạnh nói với ông mà như nói với người hư ảo: “Ông lão đánh cá cô độc đấy ư? Ông cứu tôi làm gì? Tôi đã quyết hiến thân cho Hà Bá còn hơn phải sống trong hang hùm miệng sói!” Ông lão nhẹ nhàng nói: “Cô nương nên tìm cách khác, sao lại hủy hoại tấm thân non trẻ đang giá ngàn vàng như vậy? Cô nương không tiếc công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ sao?” Mắt Hạnh trào lệ, cô nghẹn ngào nói:”Nhưng tôi sắp rơi vào tay bọn quỷ dữ!” “Tôi sẽ cứu cô nương – ông lão bình thản nói: “Cô nương muốn tôi đưa tới đâu, tôi sẽ cố gắng hết sức để cô nương được bảo toàn”. Cô Hạnh nhìn đăm đăm vào tấm khăn che mặt của ông lão đánh cá rồi đột ngột nói: “Ông lão, ông có phải là cậu bé Hứa Tam Phong thần đồng ngày xưa không?” Ông lão ngập ngừng một lát rồi nói nhanh, tiếng ông như gió thoảng: “Thưa cô nương, chính phải! Tôi là Hứa Tam Phong!” Cô Hạnh giật mình, lấy hai tay ôm mặt, đoạn từ từ bỏ tay ra, nhìn ông lão chăm chú, nói: “Thì ra chính ông là Hứa Tam Phong! Tại sao ông bỏ làng xóm ra đi, năm mươi năm mới trở lại mà không cho ai biết?” “Chuyện của tôi dài lắm. Tôi bị người ta cướp đoạt mất nghề văn nên chuyển sang nghề võ. Vì nhớ quê hương mà trở về, song nghĩ mà hổ thẹn với tổ tiên nên không dám lộ diện” – ông lão nói rồi khóc nấc, toàn thân ông rung lên như sóng nước! Hồi lâu, cô Hạnh nói: “Họ Hứa nhà ông có còn người nối dõi không? Nghe nói mặt ông xấu xí lắm? Cho tôi coi được không?” Ông lão nói: “Xin cô nương đừng coi, cô nương sẽ chết khiếp vì bộ mặt như quỷ Dạ Xoa của tôi!”, Hạnh nói dịu dàng: ”Tôi chỉ sợ bọn mặt người nhưng lòng dạ là quỷ ma. Ông ngồi xích lại gần đây, mở khăn ra cho tôi được nhìn thấy mặt người mà tôi ngưỡng mộ văn tài từ lâu!” Ông lão ngần ngừ rồi giật tấm khăn che mặt ra, ông nghĩ cô gái sẽ rú lên kinh hãi như bao cô gái khác khi nhìn thấy bộ mặt gớm ghiếc của ông. Nhưng ông hoàn toàn bất ngờ khi thấy cô Hạnh chỉ thoáng giật mình, khẽ nhắm mắt lại rồi mở ra nhìn ông chăm chú, ánh mắt lung linh như ngọc… Cánh tay trần của cô trắng ngà dưới ánh trăng huyền ảo, ngực cô chuyển động như sóng nước theo từng hơi thở mạnh. Tấm chăn chiên ông đắp cho cô đã trễ xuống, để lộ ra khuôn ngực mềm mại, đang tỏa hương thơm trinh bạch. Ông nhắm mắt lại, vội quay mặt đi toan đứng dậy thì cô gái đã vươn tay ra, ôm lấy đầu ông ép mạnh vào bộ ngực nóng rực của mình mà nói: “Ôi, ước gì tôi được đổi bộ mặt của tôi cho ông! Hứa Tam Phong! Yêu tôi đi… tôi sẽ đẻ cho ông một đứa con trai! Ông cần phải có con nối dõi!” Ông Hứa Tam Phong cảm thấy mình như đang bồng bềnh trên những tầng mây trắng xốp! Hồi lâu, Hứa Tam Phong mới định thần trở lại, ông nghe tiếng nói như lửa cháy, như nước reo bên tai: “Ông yêu tôi đi… Tôi sẽ đẻ cho ông một đứa con trai thật đẹp! Sau đó, ông hãy đưa mẹ con tôi đến một làng chài ven biển, gửi tôi ở đấy… Biển bao dung và những ngư dân tốt bụng sẽ cho tôi lánh nạn”. Hứa Tam Phong vội nói: “Tôi xin đội ơn cô nương!”, nhưng tiếng nói của ông đã tan đi trong hơi thở thiên thần của cô gái! * *   * Hứa Tam Giang chính là cháu nội của cậu bé được sinh ra và lớn lên ở ngã ba sông đó. Khuôn mặt Hứa Tam Giang được thừa hưởng sắc đẹp của người mẹ và sức khoẻ thì được thừa hưởng của người cha. Còn trí thông minh đặc biệt là của ông cố nội – tức Trạng Ngọt – truyền lại. Song, Hứa Tam Giang lại bị cái tật oái oăm: nói lắp! Mà tật nói lắp (cà lăm) của anh lại khá nặng! Chính cái tật nói lắp đã khiến anh gặp rất nhiều phiền toái, thậm chí rất nghiêm trọng… Đặc điểm chính của công việc trắc thủ Rađa là thông báo các số liệu về mục tiêu (tức máy bay Mỹ) lên chỉ huy sở, tức người trắc thủ phải nói rõ ràng, rành mạch như phát thanh viên truyền hình. Đó là một khó khăn “bất khả kháng” đối với Hứa Tam Giang. Các thủ trưởng đại đội đã quyết định điều Hứa (từ đây nói tắt là Hứa cho tiện) xuống tiểu đội nuôi quân. Nhưng mỗi khi máy móc trục trặc, trung đội trưởng máy P.40 (trong đội hình chiến đấu của bộ đội rađa, cứ mỗi một máy rađa thì biên chế một trung đội, một đại đội Rađa thường gồm có ba máy rađa, tức ba trung đội…) lại phải chạy xuống nhà bếp để cầu cứu anh chàng Hứa. Nói vậy có nghĩa là Hứa có năng khiếu đặc biệt về máy móc. Hứa nhìn vào mạng lưới dây nhợ chằng chịt của máy rađa như người nhạc sĩ nhìn vào bản nhạc, như người họa sĩ nhìn vào bức tranh. Nói nôm na, khi Hứa làm việc với máy móc cứ như người nhạc sĩ tấu nhạc, như người họa sĩ vung bút! Nhưng sự đời éo le, nghiệt ngã lại nhắm thẳng vào Hứa mà thể hiện… Một lần, Hứa đang phụ trách một chảo cơm khổng lồ thì trung đội trưởng máy rađa P.40 chạy xuống bếp cầu cứu Hứa: máy rađa bị trục trặc đúng lúc có lệnh mở máy tăng cường (bạn đọc có thể hiểu nôm na là tinh hình đang rất căng thẳng, máy bay Mỹ đang bay vào rất nhiều, toàn bộ hệ thống máy rađa của chúng ta đã huy động hết mà vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu chiến đấu). Hứa chạy lên máy cùng trung đội trưởng… Nghiệt nỗi là lúc đó, tiểu đội anh nuôi chỉ có mình Hứa trực ban làm nhiêm vụ. Khi Hứa theo Trung đội trưởng đi sửa máy rađa thì cái nhà bếp thành vô chủ! Điều đó cực kỳ không an toàn! Và sự cố đã xảy ra: cả chảo cơm khổng lồ bị cháy thành tro cùng cái nhà bếp! May mà chỗ đặt nhà bếp ở rìa làng nên không ảnh hưởng tới ai!. . . Về vụ cháy nhà bếp này, chính trị viên đại đội đòi kỷ luật nặng ngay tức thì, nhưng “án trảm” vừa mới phát ra thì đại đội trưởng cho người tới báo: Cuộc không chiến ban nãy, trên bầu trời phía Tây Thủ đô Hà Nội, không quân ta đã bắn rơi tại chỗ bốn chiếc “Con ma” (F-4H: tiêm kích hải quân Mỹ), trong đó có sự hợp đồng tác chiến rất kịp thời của máy rađa P.40, do đó cấp trên quyết định thưởng huân chương chiến công cho máy rađa P.40! Tuy thế, chính trị viên chỉ giảm mức án đối với chàng Hứa chứ không cho “trắng án” như đề nghị của đại đội trưởng! Những “tai nạn” na ná như cái vụ cháy nhà bếp vừa nói xảy ra khá nhiều đối với chàng Hứa… Dường như anh chàng Hứa này phải vác trên vai một cái “món nợ đời” quá nặng! Trong những ngày “phiêu bạt giang hồ” ở Sài Gòn, ngẫu nhiên tôi đã gặp lại Hứa Tam Giang: anh chàng đang làm chủ một lò bánh ngọt ở quận Năm!. . . Câu chuyện phải tạm dừng ở đây vì từ khi gặp lại Hứa Tam Giang, một cuốn tiểu thuyết bộ ba đã hình thành khá rõ, và nhân vật chính là anh bạn Hứa Tam Giang của tôi!
Hết
Nguồn: phongdiep.net Sưu tầm: conbo
Ngày gửi: 25/11/2009




(bản sửa cuối cùng, 22-3-2012 - Đ.N.T)


nguồn: vuontaodan.net

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2012

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch (111)

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
Tiêu đề của danh mụcSố truy cập
1 Lấy vợ xấu 62
2 Bạn vong niên 52
3 Quân sư Quạt Mo 49
4 Vụ án chiếc nút áo Casmia 162
5 Địa sứ 146
6 Có một hậu duệ của nhà Hậu Lê 146
7 Nghêu, Sò, Ốc, Hến 142
8 Chuyện tình của Thị Mầu 182
9 Tuồng và chèo 165
10 Chuyện người hỏng thi 152
11 Giai điệu mùa hè 158
12 Ký ức mùa thi 154
13 Bố và con và.... 148
14 Tiểu đội trưởng của tôi 143
15 Người được chọn đâm trâu 87
16 Ma Lai 86
17 Ký ức làm báo 3 257
18 ký ức làm báo 2 256
19 Ký ức làm báo 256
20 Hai lần bác sĩ 121
21 Bảo vệ danh tiết (chùm truyện mini) 195
22 Đề tài nghiên cứu khoa học (chùm truyện ngắn mini) 175
23 Tên tướng cướp hoàn lương 167
24 Ba lần thoát hiểm 152
25 Tứ đại mỹ nhân chân dài (Chùm truyện mini) 163
26 Cô giáo vùng cao (chùm truyện mini) 135
27 Lên rừng xuống biển 123
28 Những con tàu ra Bắc vào Nam 98
29 Cá chuối đắm đuối vì con 109
30 Chuyện tình ngày Valentine 131
Trang 1 trong tổng số 4

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Tiêu đề của danh mụcSố truy cập
31 Đám mây hình trái tim 236
32 Điều kỳ diệu 102
33 Câu lạc bộ VIP 148
34 Cái hút nước 114
35 Quanh hồ Gươm 296
36 Ngày thứ ba mươi mốt 301
37 Chuyện người bán thuốc 235
38 Vụ án đêm giao thừa 285
39 Làng tôi xanh bóng tre 163
40 Làng nói trạng 192
41 Ở trọ 155
42 Chờ 116
43 Mối tình đầu 199
44 Tình già 127
45 Ô Quan Chưởng 109
46 Ô chợ Dừa 122
47 Kén rể 142
48 Băng nhân 119
49 Kiếm tiền 119
50 Kiếm tiền tiêu Tết 103
51 Chuyện một nhà báo 148
52 Bà chủ quán và cô nhà báo tập sự 110
53 Chuyện tình đồi hoa sim (chương 6) 194
54 Chuyện tình đồi hoa sim (chương 5) 204
55 Chuyện tình đồi hoa sim (chương 4) 195
56 Chuyện tình đồi hoa sim (chương 3) 193
57 Chuyện tình đồi hoa sim (Chương 2) 199
58 Chuyện tình đồi hoa sim (tiểu thuyết mini) 199
59 Thân gái dặm trường (Chương 6 và hết) 178
60 Thân gái dặm trường (Chương 5) 173
Trang 2 trong tổng số 4

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Tiêu đề của danh mụcSố truy cập
61 Thân gái dặm trường (Chương 4) 171
62 Thân gái dặm trường (Chương 3) 172
63 Thân gái dặm trường (Chương 2) 173
64 Thân gái dặm trường (tiểu thuyết mini) 173
65 Anh hùng thọ nạn 123
66 Người đưa thư 119
67 Ca trực đêm giao thừa 157
68 Trộm Long tráo phụng 107
69 Nữ võ sĩ huyền đai 81
70 Võ trạng nguyên truyện 107
71 Cô Tấm và quả thị 87
72 Đầu năm xuất hành: Về quê 99
73 Người đánh đàn Klong Put (Hay là Quà Tặng Tuổi 20) 104
74 Trạng Me đè trạng Ngọt 88
75 Siêu mẫu chân dài 110
76 Âm mưu và tình yêu 105
77 Qua sông bằng đò 148
78 Địa linh nhân kiệt 139
79 Thượng kinh ký sự (hay là ba lần tới thủ đô) 104
80 Vi hành 114
81 Tượng nhà mồ 115
82 Lột da mặt 296
83 Chuyện tình Sơn Nữ 114
84 Người con gái sông La 127
85 Thời gian 94
86 Chị em sinh ba 241
87 Ký ức binh nhì 145
88 Những Điều Bất Ngờ - Chùm truyện mini Đỗ Ngọc Thạch 186
89 Người cuối cùng của một dòng họ võ tướng 139
90 Tôi làm gia sư 215
Trang 3 trong tổng số 4

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Tiêu đề của danh mụcSố truy cập
91 Chuyện học hành 110
92 Mùng ba Tết thầy 182
93 Cô giáo mầm non 176
94 Bạn học lớp bốn 160
95 Bạn học lớp bảy 112
96 Chuyện của nhà địa chất 115
97 Bạn học lớp ba 125
98 Bạn học lớp hai 106
99 Tướng sát phu 319
100 Cô gái Sơn Tây và anh lính binh nhì 243
101 Con gái viên đại úy 206
102 Huyền thoại Lý toét 163
103 Cô Dâu Gặp Nạn 167
104 Bác sĩ thú y 150
105 Bác sĩ đồng quê 143
106 Nhật ký của một cô giáo trường huyện 166
107 Nhật ký của một cô giáo trường làng 162
108 Sự tích chim đa đa 334
109 Lời thề thứ hai 193
110 Đứa bé tật nguyền và nàng tiên áo trắng 358
111 Mẹ Đốp 419
Trang 4 trong tổng số 4
nguồn: vannghechunhat.net
Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch